Triển khai thực hiện nông nghiệp sạch ở Việt Nam

T6, 05/08/2015 - 09:13

Nông nghiệp sạch là yêu cầu và là mong muốn của mọi người. Ở nước ta một số nơi, nông dân đã áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật canh tác một cách tùy tiện, thái quá, làm cho nông nghiệp ở những nơi đó trở thành không sạch.

Nhiều vùng trồng rau ở ven các thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt… nông dân vẫn còn dùng phân tươi, nước giải để tưới bón cho rau. Để phòng trừ sâu bệnh, ở các vùng trồng rau đã sử dụng các loại hóa chất bảo vệ thực vật với khối lượng lớn, phun hàng chục lần trong mỗi vụ. Nhiều gia đình không đảm bảo thời gian cách ly giữa lần phun thuốc cuối cùng và thời điểm thu hoạch rau. Có người phun thuốc trừ sâu hôm trước, hôm sau hái rau mang ra chợ bán. Do phun thuốc nhiều lần, ở một số vùng trồng rau, sâu tơ đã trở nên chống thuốc. Thuốc phun với nồng độ thông thường sâu không chết, nhiều nông dân tăng nồng độ thuốc dùng lên. Cứ thế sau mỗi lần phun nồng độ thuốc lại tăng lên một ít. Đến nay, ở một số nơi, nồng độ thuốc trừ sâu tơ đã tăng đến 3-4 lần nồng độ ban đầu mà sâu vẫn không chết.

Ở một số vùng trồng lúa, trên ruộng các gia đình nông dân, nhiều gia đình muốn đạt năng suất cao đã bón phân hóa học với lượng lớn gấp 3-4 lần lượng phân bình thường được sử dụng ở các nơi khác. Số lần phun thuốc trừ sâu bệnh cũng tăng lên nhiều so với các nơi khác. Ở một số vùng trồng bông, trồng chè, trồng nho, trồng cà phê, trồng thuốc lá, trồng đỗ tương v.v… tình hình diễn ra tương tự như đối với lúa.

Kết quả của những tác động không đúng kỹ thuật trên đây làm cho môi trường sản xuất nông nghiệp bị ô nhiễm, trong nông sản còn lưu lại các dư lượng của phân bón và thuốc trừ sâu. Ở một số vùng trồng rau, trong rau ăn lá, cà chua, đậu cô ve, đậu đũa… còn giữ lại trong nông sản các ion NO3-, Cu2+, Hg2+, các loại vi sinh vật gây bệnh cho người, trứng giun sán và nhiều chất gây ô nhiễm khác. Trong một số mẫu rau, đậu còn lưu lại dư lượng các loại thuốc trừ sâu.

Dư lượng các loại phân bón, thuốc trừ sâu, vi sinh vật gây bệnh trên các loại rau quả đã gây ra những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng. Nhiều người ăn phải rau còn sót lại nhiều dư lượng thuốc trừ sâu đã bị ngộ độc. Nhiều người bị bệnh đường ruột, bị nhiễm giun sán do ăn phải rau có vi khuẩn, trứng giun v.v… Đặc biệt là khi ăn rau sống, khả năng bị ngộ độc và nhiễm bệnh lại càng cao.

Điều đáng chú ý là khi ăn rau hàng ngày, có thể các chất hóa học đi vào cơ thể người với lượng không lớn, không gây ra những hậu quả, những triệu chứng mà người ta có thể nhận biết được ngay. Nhưng sau nhiều lần ăn phải thuốc bảo vệ thực vật, nhất là đối với các loại thuốc có khả năng tích lũy lại trong cơ thể. Nhiều loại thuốc có thể gây ra những triệu chứng hại cho cơ thể ở thế hệ hiện nay, nhưng có những loại thuốc có tác động gây hại cho các thế hệ con cháu người nhiễm phải thuốc, trong các thế hệ về sau.

Ở những nơi dùng thuốc hóa học bảo vệ thực vật không đúng kỹ thuật, cà cuống trên đồng ruộng biến mât, cua, cá giảm nhiều và chim thú cũng trở nên thưa thớt.

Những điều trên đây cho thấy là để tránh cho nhân dân gánh chịu những hậu quả xấu to lớn và lâu dài như đã nếu trên đây cần phải tiến hành nông nghiệp sạch.

Nông nghiệp sạch là hướng đi tới cần được chú trọng đúng mức

Nông nghiệp sạch là nền nông nghiệp tiến bộ, là hướng đi tới không những ở nước ta, mà ở cả nhiều nước trên thế giới. Sau một thời gian dài phát triển, nhất vào nửa sau của thế kỷ XX, nông nghiệp ở nhiều nước, nhất là ở các nước công nghiệp phát triển, đã công nghiệp hóa, cơ giới hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa, điện khí hóa.

Các tác động trên đây của công nghiệp vào nông nghiệp đã tạo nên bước phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp. Nhiều nơi đã đạt được những kết quả to lớn, thể hiện ở các cuộc “cách mạng xanh”, “cách mạng trắng” áp dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp. Năng suất cây trồng và vật nuôi tăng lên nhiều và đạt đến các mức mà từ trước đến nay chưa bao giờ có được. Nhiều nước từ chỗ thiếu lương thực, hàng năm phải nhập hàng chục triệu tấn để đáp ứng nhu cầu trong nước như Ấn Độ, Mehico…, đã trở thành những nước có lương thực xuất khẩu.

Tuy nhiên, những tác động mạnh mẽ của công nghiệp trong nông nghiệp đã để lại nhiều hậu quả lên thiên nhiên, lên môi trường sống của con người và lên chính bản thân sức khỏe của con người. Vì vậy, trong thời gian gần đây, các nhà khoa học, các nhà quản lý đầu tư nhiều thời gian và công sức để tìm hướng phát triển đúng đắn cho nông nghiệp.

Người ta nói nhiều đến nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp sinh học, nông nghiệp bền vững, nông nghiệp sạch, nông nghiệp xanh v.v… Tất cả các hướng phát triển nông nghiệp trên đây có những nét khác nhau trong nội dung và biện pháp, nhưng đều nhắm vào khắc phục các hậu quả của nền nông nghiệp công nghiệp hóa mà người ta gọi là nền nông nghiệp nâu. Thực ra, thuật ngữ “nông nghiệp hiện đại” không mang nội dung được xác định và không đặc trưng cho nền nông nghiệp công nghiệp hóa của thời gian vừa qua.

Công nghiệp hóa nông nghiệp là bước đi cần thiết, là phương hướng phát triển tiến bộ của nông nghiệp. Bản thân việc công nghiệp hóa nông nghiệp không phải là nguyên nhân gây ra những hậu quả tiêu cực như gây ô nhiễm môi trường, tác động xấu lên xức khỏe con người và làm cho nông nghiệp trở nên không bền vững. Đảng ta đang chủ trương công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền nông nghiệp nước ta. Đó là chủ trương hoàn toàn đúng đắn. Điều quan trọng là chúng ta công nghiệp hóa nền nông nghiệp nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở thành tựu của khoa học và công nghệ đạt được.

Có người nghĩ rằng, do nông nghiệp hiện đại đã gây ra nhiều hậu quả xấu, cho nên cần phải quay về với nông nghiệp truyền thống. Họ cho rằng nông nghiệp truyền thống là nông nghiệp hữu cơ, ít tác động mạnh lên thiên nhiên, cho nên ít có những hậu quả tiêu cực như nông nghiệp hiện đại. Kinh nghiệm làm nông nghiệp của cha ông trong nông nghiệp truyền thống là những tài sản quý báu. Chúng ta chỉ có thể phát triển, đi lên trên cơ sở những kinh nghiệm vô giá đó. Tuy nhiên, quay trở lại với nền nông nghiệp truyền thống là điều không nên làm, không thể làm. Vì với cách làm của nông nghiệp truyền thống làm sao sản xuất ra đủ lương thực và sản phẩm nông nghiệp đáp ứng cho nhu cầu của số dân đông như hiện nay, với những yêu cầu mới về số lượng và chất lượng.

Nông nghiệp bền vững nêu lên 3 yêu cầu: sản xuất nông nghiệp phát triển, đời sống nông thôn văn minh hiện đại và môi trường được bảo vệ tốt. Đây là những mục tiêu mà nền nông nghiệp ở giai đoạn hiện nay phải hướng tới để phát triển. Tuy nhiên, cần phải làm gì để đạt đến những mục tiêu này thì chưa được xác định rõ. Cũng cần nêu lên là có những mục tiêu rất khó dung hòa với nhau. Thí dụ nông nghiệp phát triển đi đôi với bảo vệ môi trường, làm cho môi trường luôn bền vững. Sự dung hòa này chỉ có thể đạt được trên cơ sở trình độ hiểu biết của nông dân được nâng cao lên và trình độ chung của nông nghiệp phải ở mức cao.

Nông nghiệp sinh thái nhấn mạnh khía cạnh đảm bảo cho môi trường sinh thái luôn ổn định và bền vững. Nông nghiệp sinh học đặt trọng tâm vào khai thác và sử dụng các quy luật sinh học. Những hướng phát triển này của nông nghiệp đều tốt, đều cần được tính đến một cách nghiêm túc trong quá trình lựa chọn hướng phát triển cho nông nghiệp ở nước ta.

Tuy nhiên, nông nghiệp là một hệ thống tổng hợp gồm nhiều yếu tố: tự nhiên, sinh học, kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trường. Các yếu tố này đan xen vào nhau, tác động lẫn nhau để tạo ra hiệu quả là các sản phẩm nông nghiệp. Việc đặt nặng trọng tâm vào một yếu tố nào đó, coi nhẹ việc phát huy và sử dụng tốt các yếu tố khác đều có thể đem lại những kết quả không đầy đủ và trọn vẹn.

Nông nghiệp sạch là hướng được đặt ra nhằm tập trung vào bảo đảm sức khỏe và môi trường sống trong lành của con người. Trên từng góc độ xem xét, nông nghiệp sạch là một phần của nông nghiệp sinh thái, một phần của nông nghiệp bền vững. Mục đích của sản xuất nông nghiệp là thỏa mãn các nhu cầu của con người, trong đó bảo đảm sức khỏe là nhu cầu của mỗi người và của toàn xã hội. Vì vậy phát triển nền nông nghiệp sạch là yêu cầu tất nhiên được đặt ra. Tuy vậy, cho đến nay yêu cầu này còn ít được nói đến, vì sản phẩm nông nghiệp nhý là kết quả hoạt ðộng tự nhiên của các loài sinh vật, vốn là những sản phẩm sạch không gây tác hại gì cho cơ thể con người. Gần đây, vấn đề nông nghiệp sạch được đặt ra và ngày càng gay gắt, do các hoạt động của con người làm cho nông sản bị ô nhiễm, trở nên không sạch và có khả năng gây hại cho sức khỏe con người.

Yêu cầu của con người không chỉ là được ăn sạch mà còn phải được ăn đủ. Trong một số trường hợp, việc ăn đủ được đặt ra trước khi nói đến ăn sạch và ít ra cũng được đặt ngang hàng với nhau. Như vậy, là bên cạnh việc sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạch cần phấn đấu tạo ra khối lượng lớn các sản phẩm đủ cho các yêu cầu của con người. Điều khó là làm sao để kết hợp được cả 2 yêu cầu này trong sản xuất nông nghiệp, trong khi ở nhiều trường hợp 2 yêu cầu này chuyển động theo những hướng khác nhau. Không thể đặt vấn đề hy sinh yêu cầu này để tập trung sức cho yêu cầu kia. Vì vậy, nông nghiệp sạch không chỉ phấn đấu cho một yêu cầu: nông sản và môi trường không bị ô nhiêm, mà phải phấn đấu cho cả 2 yêu cầu.

Chúng ta nhất thiết phải phấn đấu để thực hiện nền nông nghiệp sạch. Không những thế mà còn phải thực hiện nông nghiệp sạch ngay từ bây giờ. Nhiều vùng nước ta đã có nông sản bị ô nhiễm, môi trường sản xuất bị ô nhiễm. Cần khắc phục tình trạng này và phấn đấu dể tình trạng này không lan rộng ra. Thực hiện nông nghiệp sạch lại càng có ý nghĩa lớn, khi chúng ta đang biến chủ trương công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền nông nghiệp của Đảng thành hiện thực.

Tình hình sản xuất nông nghiệp hiện nay ở nước ta càng yêu cầu phải có nông nghiệp sạch

Chúng ta tiến hành nền sản xuất nông nghiệp trong điều kiện đất chật, người đông, diện tích đất nông nghiệp bình quân trên đầu người thấp, vào loại thấp nhất trên thế giới. Cả nước ta có hơn 33 triệu hecta đất tự nhiên; trong số diện tích này, cho đến nay mới có khoảng 10 triệu hecta đất được sử dụng cho nông nghiệp và trong đó chỉ có hơn 6 triệu hecta đất trồng cây lương thực. Như vậy, nếu tính riêng diện tích cây lương thực chúng ta chỉ có bình quân chưa đến 1000m2/người.

Chúng ta tiến hành sản xuất nông nghiệp trong điều kiện cư dân nông thôn ở rải rác trên khắp các vùng đất nước. Trong điều kiện giao thông nông thôn chưa thuận lợi sản xuất nông nghiệp được tiến hành ngay bên cạnh các điểm dân cư. Nhiều loại sản xuất nông nghiệp được tiến hành ngay trong vườn nhà, trên cùng một mảnh đất với nhà ở và chuồng trại gia súc. Đặc biệt, đối với các loài cây đòi hỏi phải có sự chăm sóc thường xuyên như các loài rau, cây ăn quả, thường được bố trí gần cạnh nhà, càng gần càng tốt. Trong điều kiện sản xuất như vậy, các ô nhiễm môi trường sản xuất đều có thể tác động trực tiếp lên cơ thể người.

Nền nông nghiệp nước ta được tiến hành trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Quanh năm có cây xanh. Thời tiết nắng lắm, mưa nhiều. Các hoạt động sản xuất thường rất khẩn trương, đan xen, kế tiếp nhau. Nhiều vùng, nhất là các vùng trồng rau, nông dân tiến hành nhiều vụ sản xuất trên cùng một diện tích, nơi quay vòng đất nhiều, có đến trên 10 vụ trong một năm. Trên diện tích trồng lúa có nơi làm 3 vụ lúa, có nơi làm 2 vụ lúa một vụ màu. Với tình hình sản xuất khẩn trương như vậy, đất đai thường xuyên chịu tác động của các biện pháp kỹ thuật canh tác. Phân bón cho mỗi vụ sản xuất có thể chưa nhiều nhưng do bón nhiều lần cho nhiều vụ sản xuất trên cùng một diện tích, cho nên phân bón có thể tích lũy trong đất. Đối với các loại hóa chất bảo vệ thực vật, tình hình cũng xảy ra tương tự.

Khí hậu nhiệt đới vừa tạo ra cho sản xuất nông nghiệp nhiều điều kiện thuận lợi nhưng đồng thời cũng gây ra nhiều khó khăn trong sản xuất. Nắng mưa nhiệt đới làm cho cây cối xanh tươi. Cây cối có thể phát triển quanh năm. Các yếu tố khí hậu nhiệt đới cũng làm cho hóa chất trong môi trường chóng phân hủy, chóng bị rửa trôi. Bên cạnh đó, do diễn biến của các yếu tố khí hậu thất thường nên có những biện pháp phải lặp lại mới đảm bảo kết quả. Bón phân, phun thuốc trừ sâu xong, nếu gặp mưa, muốn đạt được kết quả theo yêu cầu kỹ thuật phải lặp lại lần nữa v.v… Những tác động này, nếu không được xử lý tốt, có nhiều khả năng gây ô nhiễm môi trường.

Nhân dân ta, cho đến nay, vẫn sử dụng rau quả dưới dạng tươi, chưa thông qua chế biến hoặc chỉ sơ chế đơn giản. Vì vậy, các chất hóa học (phân bón, thuốc bỏa vệ thực vật, chất kích thích sinh trưởng v.v…) các loài vi sinh vật, các chất độc v.v… còn bám trên nông sản (rau, quả…) có nhiều khả năng xâm nhập vào cơ thể con người.

Chúng ta đã có đủ điều kiện cần thiết để tiến hành nông nghiệp sạch

Vì lợi ích trước mắt của người tiêu dùng và người sản xuất, vì lợi ích của các thế hệ tương lai, Nhà nước ta đã có chủ trương tiến hành nông nghiệp sạch. Tuy nhiên, cho đến lúc này sự chú ý chỉ mới tập trung nhiều vào sản xuất rau sạch, còn đối với các loại cây trồng khác mức độ đặt ra ít gay gắt hơn.

            Để khuyến khích bà con nông dân trồng rau sạch, Sở Khoa học – Công nghệ và Môi trường Hà Nội đã tạo điều kiện cho nông dân vay vốn 300.000 đồng cho 1 sào rau, cử cán bộ tập huấn cho bà con thực hiện đúng quy trình sản xuất, cung cấp các loại giống rau, bán phân vi sinh v.v… nhưng do mới thực hiện làm, nên năng suất chưa cao, cây tăng trưởng chậm, mỗi năm chỉ làm được 2 vụ (mỗi vụ 2 lứa) thấp hơn rau bình thường 10-15%. Trong khi đó đầu tư chi phí cho mỗi sào rau sạch cao hơn làm rau bình thường khoảng 100.000 đồng, thu hoạch chậm hơn 10 ngày. Khó khăn nối tiếp khó khăn, nguồn nước tưới phải lấy từ sông Hồng, cứ mỗi lần bơm nước mất 8 triệu đồng, lượng phân vi sinh để bón lót đất hết 1000 đ/kg, trong khi đó phân bắc và phân tươi chỉ mua với giá 30-40 nghìn đồng/tấn.

            Bên cạnh những thuận lợi như được giúp đỡ về vốn, kỹ thuật, băn khoăn lo lắng lớn nhất của bà con nông dân là vẫn chưa tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm đúng với giá trị và công sức bỏ ra. Chi phí cho sản xuất cao hơn, nhưng thu lại chẳng là bao, vì người tiêu dùng phần nào còn nghi ngại về chất lượng của rau sạch. Ở Văn Đức có thời gian đem bán rau sạch lẫn với các loại rau khác vì rau sạch bị ế. Có nhà bán không được, ăn không xong, đổ tháo nấu cho lợn.

            Nhiều phương tiện thông tin đại chúng đã phản ánh những khía cạnh khác nhau về nông nghiệp sạch và sản xuất rau sạch. Tổng hợp lại, tình hình sản xuất rau sạch ở nước ta hiện nay có những vấn đề sau đây:

- Kỹ thuật làm rau sạch có nhiều khó khăn: nước tưới sạch phải lấy xa, sâu, xử lý tốn kém, phân vi sinh vật đắt v.v…

- Chi phí để sản xuất rau sạch cao.

- Năng suất thấp. Thời vụ kéo dài. Mã dáng xấu hơn rau bình thường.

- Thị trường tiêu thụ chậm vì giá cao, vì chưa tin là rau sạch…

- Chủng loại rau sạch chưa đồng bộ, còn nghèo nàn.

- Công tác kiểm định chưa thành nề nếp, giá kiểm định cao.

Những khó khăn nêu trên đây, nảy sinh từ thực tế sản xuất rau sạch đang là trở ngại trên con đường phát triển của nông nghiệp sạch ở nước ta. Những trở ngại này đang trong quá trình từng bước được khắc phục.

Điều kiện thiên nhiên, đất đai, trình độ sản xuất nông nghiệp, các yếu tố và điều kiện sản xuất ở nước ta cho thấy là chúng ta có đủ điều kiện để thực hiện nông nghiệp sạch ngay từ lúc này. Có thể nếu lên những yếu tố chủ yếu sau đây:

- Điều kiện thiên nhiên, đất đai, khí hậu ở nước ta thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp và không tạo ra những trở ngại cho tiến hành nông nghiệp sạch.

- Hệ sinh thái nông nghiệp nhiệt đới nước ta đa dạng, phong phú. Các hệ sinh thái nông nghiệp ở từng vùng sản xuất tương đối bền vững, thể hiện ở quần thể sinh vật đông đúc, nhiều chủng loại, các mối quan hệ phát triển trên nhiều cấp độ. Điều đáng lưu ý là khả năng tự hồi phục, tự cân bằng của các hệ sinh thái nhiệt đới tương đối cao. Các hệ sinh thái nhiệt đới có các đặc trưng: tập đoàn cây phong phú; tập đoàn vi sinh vật và động vật bậc thấp (kể cả trên mặt đất và trong đất) dồi dào; chu chuyển chất diễn ra nhanh; mạng lưới dinh dưỡng dày v.v… cho nên các rung động trong hệ sinh thái được lan truyền theo nhiều hướng và chóng bị dập tắt.

- Về nhận thức: từng bước nông dân ta đã thấy được sự cần thiết phải tiến hành nông nghiệp sạch. Nhà nước ta đã có chủ trương và quyết tâm tiến hành nông nghiệp sạch.

- Trình độ sản xuất của nông dân nước ta, những hiểu biết, kinh nghiệm tích lũy được cho phép họ áp dụng linh hoạt các biện pháp kỹ thuật đảm bảo cho các công nghệ và quy trình sản xuất nông nghiệp sạch.

- Chúng ta có đầy đủ các loại vật tư kỹ thuật cần thiết để thực hiện nông nghiệp sạch. Không chỉ tiến hành nông nghiệp sạch mà trình độ hiểu biết và vật tư kỹ thuật của chúng ta có thể đảm bảo đồng thời thâm canh, phát triển sản xuất, đảm bảo hiệu quả kinh tế đi đôi với nông nghiệp sạch.

- Thị trường của sản phẩm nông nghiệp sạch đang được hình thành và ngày càng mở rộng ở trong nước. Thị trường nước ngoài đang có nhiều yêu cầu đối với sản phẩm nông nghiệp sạch và đang ngày càng mở rộng.

- Công tác kiểm định, kiểm soát độ sạch của sản phẩm đang mở rộng và ngày càng đi vào nề nếp.

 

GS.TS Đường Hồng Dật

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp