Kiến nghị về giải pháp giảm thiểu thuốc BVTV trong SXNN

Về chúng tôi

T4, 07/15/2015 - 14:47

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HỘI KHKT BVTV VIỆT NAM

 

Số              /HBVN

            

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà nội, ngày 15 tháng 11 năm 2014

BẢN KIẾN NGHỊ VỀ GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT

ĐỘC HẠI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

của Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam

 

Kính gửi:                    - Ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

                                    - Ông Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

                                    - Bộ trưởng Bộ Y tế

                                    - Ông Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nan

                                    - Ông Bộ trưởng Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường

                                    - Ủy ban Khoa học công nghệ và Môi trường Quốc Hội

                                    - Cục Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

                                    - Vụ Khoa học - Công nghệ và môi trường Bộ Nông nghiệp và PTNT

                                    - Chủ tịch ủy ban Nhân dân một số tỉnh trọng điểm.

Hội Khoa học kỹ thuật bảo vệ thực vật Việt Nam xin gửi tới Bộ trưởng và Quý cơ quan lời kính chúc sức khỏe và lời chào trân trọng nhất!

Thực hiện nhiệm vụ tư vấn - phản biện của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, ngày 17 tháng 10 năm 2014 Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam đã tổ chức Hội thảo “Giải pháp giảm thiểu thuốc bảo vệ thực vật độc hại trong sản xuất nông nghiệp”. Trên cơ sở tiếp nhận nhiều tham luận và ý kiến đóng góp của các đơn vị và cá nhân của nhiều nhà khoa học, các Sở Nông nghiệp tỉnh, thành phố, các Chi cục bảo vệ thực vật, các doanh nghiệp cho Hội thảo này,  Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam xin gửi đến Quý Bộ và các Cơ quan  những kết luận và kiến nghị của Hội thảo như sau:

1/ Kết luận

Hội thảo đã đi đến một số kết luận chủ yếu sau:

1- Thuốc bảo vệ thực vật có vị trí quan trọng trong việc ngăn chặn dịch hại cây trồng đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu nông sản nước ta trong nhiều năm qua và những năm tiếp theo. Song thuốc bảo vệ thực vật là con dao 2 lưỡi, là mặt hàng kinh doanh có điều kiện phải kiểm soát nghiêm ngặt.

2- Công tác quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nước ta đã được chú trọng và ngày càng kiểm soát chặt chẽ song vẫn còn những vấn đề tồn tại, bất cập cần sớm giải quyết như vấn đề thuốc bảo vệ thực vật nhập lậu và những vi phạm trong sản xuất và kinh doanh, vấn đề lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp, vấn đề tiêu hủy thuốc tồn dư và xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng, vấn đề dư lượng thuốc trên nông sản và đặc biệt là vấn đề cần thiết phải giảm thiểu lượng hoạt chất và thuốc thương phẩm bảo vệ thực vật độc hại trong danh mục được phép sử dụng ở Việt Nam.

3- Cần thiết phải đổi mới chiến lược quản lý - sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hiện nay từ sử dụng an toàn, hiệu quả sang quản lý sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nghiêm ngặt, nhằm giảm thiểu thuốc bảo vệ thực vật độc hại trong sản xuất nông nghiệp để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường nông nghiệp sinh thái bền vững.

Đề nghị cần xây dựng chiến lược và có lộ trình quản lý - sử dụng thuốc bảo vệ thực vật từ nay đến năm 2030 theo hướng giảm thiểu sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật, nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc, đảm bảo an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường.

2/ Kiến nghị một số giải pháp chính giảm thiểu thiếu bảo vệ thực vật độc hại trong sản xuất nông nghiệp

a/ Nhóm giải pháp về chính sách và quản lý, kết hợp nâng cao năng lực của cán bộ địa phương trong quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

1- Bảo vệ thực vật là một ngành khoa học có tính tổng hợp, chuyên sâu liên quan tới nhiều lĩnh vực môi trường, khí hậu, cơ cấu cây trồng và quần thể sinh vật trong một hệ sinh thái nông nghiệp. Vì vậy hơn bao giờ hết cần thiết phải có một tổ chức hệ thống chuyên ngành từ Trung ương đến cơ sở như hệ thống theo dõi khí tượng, cảnh báo thiên tai. Trong suốt hơn 60 năm phát triển nông nghiệp Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng hệ thống tổ chức quản lý bảo vệ thực vật từ Trung ương đến cơ sở. Đó là Cục bảo vệ thực vật, các Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh, trạm bảo vệ thực vật huyện, đội, tổ bảo vệ thực vật của HTX. Sau đó đến khoán hộ thì dưới cơ sở hầu như không có tổ, đội bảo vệ thực vật. Những năm gần đây hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về bảo vệ thực vật không những không được gia cố mà lại có chiều hướng biến động bất lợi. Để quản lý và sử dụng tốt thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp không có con đường nào khác là càng ngày càng phải tăng cường củng cố hệ thống quản lý nhà nước về bảo vệ thực vật từ Trung ương đến địa phương cơ sở một cách hoàn thiện, chuyên sâu về chất lượng đội ngũ cán bộ kỹ thuật, đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị hành nghề. Đặc biệt cần quan tâm chú ý xây dựng cán bộ bảo vệ thực vật cấp xã. Họ phải được đào tạo, tập huấn kiến thức chuyên ngành và đề nghị Nhà nước cần có chế độ thỏa đáng cho màng lưới này trong ngân sách cấp Xã. Vì họ là mắt xích quan trọng để tiếp nhận chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến nông dân và có trách nhiệm trong việc hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ sâu bệnh hiệu quả. Đề nghị trên góc độ nhà Lãnh đạo và quản lý Nhà nước cần thấy hết tính chất chuyên ngành, chuyên sâu của công tác bảo vệ thực vật còn nếu chỉ nhìn thấy sự liên quan đến công việc mà sát nhập các tổ chức vào một đầu mối cho gọn thì vô hình chung đã làm đổ vỡ cả một lĩnh vực khoa học chuyên sâu từ điều tra phát hiện, dự tính dự báo biến động của sâu bệnh, sử dụng biện pháp kỹ thuật trong đó có thuốc hóa học thì khó lường hết hậu quả đem lại cho sản xuất về lâu dài.

2- Sản xuất nông nghiệp trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang hứng chịu những biến động xảy ra hàng năm. Đó là sự biến đổi khí hậu, thời tiết xảy ra hàng vụ, hàng năm, nhất là ở vùng nhiệt đới ẩm. Đó là sự biến đổi về cây trồng, cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp ở một vùng cụ thể. Hơn nửa cây trồng là  mắt xích đầu tiên và là nguồn cung cấp thức ăn cho cả quần thể sinh vật. Trong hệ sinh thái nông nghiệp nên nó gây ra sự biến động của quần thể sâu bệnh gây hại và quần thể ký sinh thiên địch của chúng đang diễn ra hàng ngày. Thậm chí dễ gây hiện tượng đột biến hình thành các nòi, chủng vi sinh vật gây bệnh mới trong tự nhiên. Vì vậy đòi hỏi phải thường xuyên làm tốt công tác điều tra phát hiện, dự tính dự báo tình hình sâu bệnh hại và xác định quần thể ký sinh thiên địch của chúng nhằm  xây dựng được quy trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) cho từng loại cây trồng. Trên cơ sở đó mới xác định được đúng biện pháp sử dụng thuốc hóa học theo phương pháp 4 đúng đảm bảo tính hiệu quả và an toàn đối với sức khỏe cộng đồng và môi trường.

3- Sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật thực chất là sản xuất và kinh doanh chất độc trong sản xuất nông nghiệp. Kính đề nghị Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Cục bảo vệ thực vật, cùng các tỉnh cần xem xét, rà soát lại các doanh nghiệp trong hệ thống sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam. Cần phải có những quy định chặt chẽ các điều kiện về năng lực kỹ thuật, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, vấn đề xử lý môi trường, phạm vi hoạt động có hiệu quả để thường xuyên thanh lọc và giảm thiểu từ 50-60 % các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật hiện có. Đồng thời đề nghị chỉ cho phép 5-10% trong tổng số doanh nghiêp thuốc bảo vệ thực vật còn lại làm đầu mối nhập khẩu. Không nên cho phép thành lập các doanh nghiệp và đại lý một cách tràn lan như hiện nay.

- Tăng mức phạt thích đáng những hành vi sai phạm trong sản xuất, kinh doanh, tàng trữ, vận chuyển thuốc bảo vệ thực vật trái quy định pháp luật. Xử lý thật nghiêm hoặc đình chỉ hoạt động những cơ sở sản xuất, đại lý kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật không đảm bảo chất luợng, gây ô nhiễm môi truờng hoặc vi phạm pháp luật. Kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất, kinh doanh và việc tiếp thị quá mức chỉ vì mục đích lợi nhuận của các đại lý bán thuốc bảo vệ thực vật.

- Nhà nước và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng các địa phương xem xét cho chủ trương quy hoạch, xây dựng các khu công nghiệp sản xuất thuốc bảo vệ thực vật hóa học cũng như chế phẩm sinh học trong nước nhằm giảm thuốc nhập khẩu. Để thực hiện được chủ trương này cần xây dựng các đề án cụ thể trình Nhà nước, Chính phủ và Bộ phê duyệt giành từ quỹ đất đai không trồng trọt được, xa dân cư, đảm bảo xử lý tốt môi trường, không gây hậu quả lâu dài…

4- Đề nghị Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và cơ quan chuyên ngành bảo vệ thực vật tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các nghị định và thông tư thi hành dưới Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật mới được nhà nước ta phê duyệt để kiểm soát chặt chẽ công tác quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam trong thời gian tới.

5- Đề nghị có quy định cụ thể để loại bỏ dần những thuốc bảo vệ thực vật độc hại, thuốc lạc hậu, tăng cường các loại thuốc tiên tiến, ít độc hại với con người và môi trường. Đề nghị kiểm tra, rà soát lại tất cả những hoạt chất và thuốc bảo vệ thực vật có độ độc cao, chậm phân hủy để loại bỏ dần khỏi danh mục thuốc bảo vệ thực vật đã đăng ký ở nước ta; chú ý các thuốc (nhóm độc I, II), thời gian cách ly dài, độc cao với ký sinh thiên địch và cá, thuốc bảo vệ thực vật có ảnh hưởng lớn sức khỏe con người và môi trường; giảm thiểu lượng thuốc hóa học sử dụng >30%, có chính sách thuế thích đáng để hạn chế thuốc hóa học; đặc biệt chú ý các hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật đã bị cấm sử dụng ở một số nước như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc…

6- Đề nghị nhà nước, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn có chính sách hợp lý để khuyến khích, hỗ trợ việc sản xuất, đăng ký và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học, thuốc thảo mộc có chất lượng, nâng dần cơ cấu tỉ lệ thuốc sinh học > 30%; tăng cường các thuốc bảo vệ thực vật thế hệ mới, thuốc bảo quản rau, quả an toàn.

7- Đề nghị kiểm soát chặt chẽ việc đăng ký và khảo nghiệm thuốc, để tránh tình trạng danh mục ảo cần kiểm tra lượng thuốc nhập khẩu của từng công ty sản xuất, kinh doanh thuốc hàng năm để có cơ sở loại bỏ các thuốc bảo vệ thực vật có đăng ký nhưng không kinh doanh. Định kỳ sàng lọc sản phẩm (3 năm/ lần) để loại bỏ các thuốc bảo vệ thực vật độc hại hoặc bộc lộ nhiều nhược điểm trong quá trình sử dụng, ảnh hưởng sức khỏe con người, sinh vật có ích và môi trường.

8- Đề nghị có giải pháp quyết liệt để ngăn chặn thuốc nhập lậu và kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất, kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật bất hợp pháp, thuốc giả, thuốc kém chất lượng, thuốc bảo vệ thực vật không rõ nguồn gốc gây tác hại nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân, gây ô nhiễm môi trường sinh thái.

9- Đề nghị tăng cường quyền hạn và chế tài của lực lượng thanh tra chuyên ngành để thực sự có hiệu quả trong việc kiểm soát chặt chẽ hoạt động sản xuất, kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật, tránh chồng chéo, hiệu quả thấp hoặc gây phiền hà cả cho doanh nghiệp và sản xuất.

b/ Nhóm giải pháp nâng cao trình độ hiểu biết và nhận thức cho người dân

1- Thông qua các các phương tiện thông tin, tuyền truyền đại chúng như báo chí, tờ rơi, áp phích, quảng cáo cũng như phát thanh, truyền hình từ Trung ương đến địa phương để kịp thời cập nhật thông tin tới người dân về công tác quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

2- Lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thiếu hiệu quả và thiếu an toàn, khắc phục nguy cơ bị nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật ở các địa phương là vấn đề tồn tại lớn hiện nay trong sản xuất nông nghiệp nước ta. Kính đề nghị Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chính quyền các địa phương và các cơ quan chuyên ngành giành một phần kinh phí khuyến nông để thường xuyên huy động các cơ quan  thông tin đại chúng; các tổ chức xã hội khoa học, nghề nghiệp tham gia tuyên truyền, mở các lớp đào tạo,  tập huấn nông dân và các đại lý kinh doanh thuốc về quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nâng cao hiểu biết, thực thi pháp luật trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc, áp dụng tốt nguyên tắc 4 đúng và đảm bảo thời gian cách ly trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

3- Để khắc phục tình trạng nhiều người có nguy cơ bị nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật, ở các địa phương cần tổ chức các tổ dịch vụ bảo vệ thực vật ở từng xã, huyện và phát triển mạng lưới dịch vụ bảo vệ thực vật thôn, xã, tập trung trước mắt trên một số cây trồng có lợi thế cạnh tranh và cây trồng tiềm năng của từng địa phương; có cơ chế, chính sách ưu đãi hợp lý để duy trì lâu dài hoạt động này trong quá trình thực hiện.

4- Thông qua việc tăng cường hợp tác quốc tế, hợp tác nghiên cứu hội thảo, tập huấn khoa học với nhiều nước trên thế giới và khu vực ASEAN về vấn đề quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam cũng như kinh nghiệm tiên tiến các nước khác trên thế giới.

c/ Nhóm giải pháp kỹ thuật để hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Cần đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp nói chung và bảo vệ thực vật nói riêng hiện nay để xây dụng nền nông nghiệp xanh, sạch, bền vũng.

1- Đề nghi Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và các cơ quan chức năng mở rộng công tác nghiên cứu các biện pháp phi hóa học, như sản xuất và sử dụng các chế phẩm sinh học bảo vệ cây trồng , nghiên cứu, lai tạo các giống cây trồng chống chịu sâu bệnh, chương trình IPM trong đất, hạn chế phân hóa học, tưới tiêu hợp lý, thực hiện sản xuất nông nghiệp sạch, sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

2-  Tiếp tục vận động, hướng dẫn toàn dân thực hiện chương trình quản lý dịch hại tổng hợp cây trồng (IPM, ICM) trên cả nước mà chương trình FAO đã xây dựng điển hình ở một số địa phương trước đây.

- Cần  đầu tư xây dựng, mở rộng áp dụng các mô hình chuẩn về IPM, chương trình canh tác lúa cải tiến (SRI), 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, sản xuất cây trồng an toàn theo quy trình VietGAP…

3- Xây dựng chiến lược công nghệ sinh thái, chủ động nhân thả bổ sung thiên địch ký sinh, bảo vệ và duy trì côn trùng bắt mồi ăn thịt, vi sinh vật có ích, hạn chế  tối đa sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật độc hại và phân hóa học trong sản xuất nông nghiệp…

d) Nhóm giải pháp có tính liên kết cộng đồng - phối hợp hành động

Ở nhóm giải pháp này cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Khoa học công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, Cục Bảo vệ thực vật và các Ban, Ngành trung ương với các chính quyền địa phương, giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật, Hội Giống cây trồng, Hội Nông dân, Hội khuyến nông từ Trung ương đến cơ sở tập trung giải quyết các vấn đề:

1- Vấn đề xử lý thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng và thu gom, xử lý rác thải bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng để bảo vệ môi trường hiện nay là vấn đề lớn của cả nước đòi hỏi sự quan tâm của nhà nước, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các cấp chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên trách, các nhà khoa học, các doanh nghiệp cũng như cần sự đóng góp và ý thức trách nhiệm của mỗi người. Nhà nước, địa phương hỗ trợ một phần kinh phí và doanh nghiệp phải đóng góp, hỗ trợ một phần kinh phí bảo vệ môi trường hợp lý để thu gom, tiêu hủy bao bì rác thải thuốc bảo vệ thực vật đã tồn đọng và phát sinh hàng năm.

2- Quy định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của chính quyền địa phương và cơ sở thôn, xã trong công tác quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

3- Có biện pháp xử lý thích hợp đối với người sử dụng thuốc sai quy định.

4- Vấn đề giảm thiểu thuốc bảo vệ thực vật độc hại trong sản xuất nông nghiệp bảo vệ sức khỏe con người và môi trường là vấn đề rất lớn đòi hỏi phải có sự đồng tâm hiệp lực, sự liên kết chặt chẽ của nhiều cơ quan, bộ ngành, các hội bảo vệ thực vật chuyên ngành, hội Nông dân, Trung tâm Khuyến nông vv… trong việc tư vấn, đào tạo huấn luyện, tuyên truyền, hỗ trợ kỹ thuật và giám sát thực hiện. Đề nghị Bộ NN&PTNT và cơ quan chức năng cần có chính sách cơ chế thích hợp để huy động các lực lượng này tham gia có hiệu quả trong công tác quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam.

Trên đây là những ý kiến đề xuất của Hội Khoa học kỹ thuật bBảo vệ thực vật Việt Nam về giải pháp giảm thiểu thuốc bảo vệ thực vật độc hại trong sản xuất nông nghiệp.

Kính mong Quý Bộ và Cục Bảo vệ thực vật quan tâm nghiên cứu để đề ra những giải pháp thích hợp. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn!

Nơi nhận                                                  

- Như Kg

- Hội SX & KD thuốc BVTV

- Các đ/c thường trực

- VP Hội phía Nam

- Lưu CP

 

T/M HỘI KHKT BVTV VIỆT NAM

Q.Chủ tịch kiêm Tổng thư ký

 

 

 

 

Nguyễn Quang Hiếu

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp