Kết quả Hội thảo BVTV vật với sản xuất rau an toàn ở Việt nam

Thông báo lỗi

Deprecated function: The each() function is deprecated. This message will be suppressed on further calls in menu_set_active_trail() (line 2404 of /home/baovethucv/domains/hoibaovethucvat.org/public_html/includes/menu.inc).

Về chúng tôi

T4, 07/15/2015 - 16:26

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HỘI KHKT BVTV VIỆT NAM

 

Số              /HBVN   

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà nội, ngày 5 tháng 11 năm 2013

 

Báo cáo kết quả hội thảoBảo vệ thực vật với sản xuất rau an toàn ở Việt nam”

Một số kết luận và đề xuất chủ yếu

         Kính gửi:          - Ủy ban Khoa học công nghệ và Môi trường của Quốc hội

                                - Liên Hiệp hội khoa học kỹ thuật Việt nam

                                - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt nam xin gửi tới Quý Cơ quan lời chào trân trọng!

Vừa qua, Hội chúng tôi được Liên hiệp hội khoa học kỹ thuật Việt nam giao nhiệm vụ mang tính tư vấn phản biện dưới hình thức tổ chức Hội thảo khoa học thực tiễn với chủ đề: “Vai trò của bảo vệ thực vật với sản xuất rau an toàn ở Việt nam” - một vấn đề thời sự, bức xúc hiện nay của sản xuất, tiêu dùng và xã hội trong tiến trình phát triển một nền nông nghiệp an toàn, bền vững và hội nhập.

Hội chúng tôi đã tổ chức có kết quả Hội thảo này vào ngày 19/10/2013 tại Hà nội. Hội thảo đã tập hợp được thành phần tham gia, báo cáo khá đông đảo, đa dạng, phong phú, với chất lượng cao, cập nhật thông tin mới trong những lĩnh vực chủ yếu liên quan đến bảo vệ thực vật và sản xuất rau an toàn và an toàn thực phẩm của các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương cũng như địa phương, các cơ quan nghiên cứu và đào tạo hàng đầu như các Viện, Trường Đại học, các Hội nghề nghiệp và một số công ty bảo vệ thực vật cũng như nhà khoa học.

Phù hợp yêu cầu về chủ đề của Hội thảo, hơn 50 báo cáo và phát biểu tham luận trong Hội thảo đã tập trung vào các nội dung chủ yếu như: sản xuất rau an toàn, VietGap và vai trò của bảo vệ thực vật đối với sản xuất rau an toàn và an toàn thực phẩm, VietGap, quản lý dịch hại, quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau an toàn.

Sau đây là một số kết luận và đề xuất chủ yếu của Hội thảo, đồng thời cũng là quan điểm của Hội khoa học kỹ thuật bảo vệ thực vật Việt nam:

I. MỘT SỐ KẾT LUẬN CỦA HỘI THẢO

Hội thảo “Bảo vệ thực vật với sản xuất rau an toàn” đã đồng thuận, thống nhất với một số đánh giá, nhận xét và kết luận liên quan đến nội dung, chủ đề của hội thảo như sau:

1. Việc phát triển và mở rộng sản xuất rau là một xu hướng thực tế và tất yếu trên thế giới cũng như ở nước ta và đang đặt ra cho bảo vệ thực vật những nhiệm vụ mới và quan trọng

Trong quá trình tiến triển của một xã hội văn minh hiện đại hướng tới bền vững, nhu cầu về dinh dưỡng, về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, về nâng cao chất lượng sống, về vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm có những sự thay đổi rất cơ bản. Xã hội phát triền cho thấy, rau quả là những thực phẩm không thể thiếu trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người. Nhu cầu về rau, quả ngày càng gia tăng cả về số lượng và chất lượng.

Để đáp ứng yêu cầu trên, trên phạm vi toàn cầu cũng như ở nước ta trong thời gian qua diện tích rau liên tục được mở rộng, sản lượng rau không ngừng gia tăng, hoạt động thương mại rau quả phát triển mạnh, tiêu dùng về rau ngày một cao.

- Diện tích rau trên thế giới năm 2005 là 8 triệu ha, sản lượng đạt 83,1 triệu tấn. Bình quân tiêu dùng 59, 5 kg/người/năm. Sản lượng rau xuất khẩu là 1,6 triệu tấn với giá trị kim ngạch là 508 triệu USD. Trong Top 10 nước sản xuất  rau hàng đàu thế giới, Việt nam đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Ấn độ.

- Tình hình sản xuất và tiêu dùng của Việt nam: Diện tích rau ở nước ta gia tăng mạnh, từ 706.479 ha năm 2007 tăng lên 735.335 ha năm 2009. Sản lượng rau từ 11.084.655 tấn năm 2007 tăng lên 11.885.067 tấn năm 2009. Sản lượng rau bình quân đầu người trong năm của Việt nam khá cao so với khu vực và thế giới, đạt 149,49 kg (năm 2009).

Sản xuất rau ở Việt nam có những thuận lợi lớn về điều kiện tự nhiên như khí hậu, đất đai về chủng loại, có thể trồng liên tục nhiều vụ trong năm, với xấp xỉ 100 loại. Kinh nghiệm trồng rau của nông dân vùng rau khá tốt, dễ tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật mới. Một số chính sách về sản xuất rau an toàn đã được ban hành và thực thi. Việt nam lại là một nước xuất khẩu nông sản quy mô lớn trên thế giới, trong đó mặt hàng rau quả là một thế mạnh.

Do vậy công tác bảo vệ thực vật phải có nhiệm vụ và trách nhiệm ngày càng làm tốt việc bảo vệ sản xuất cho rau cả về sản lượng, năng suất và chất lượng, làm tốt việc góp phần thúc đẩy xuất khẩu rau

2. Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho rau đang là yêu cầu cấp bách và bức xúc của cả người sản xuất, người tiêu dùng, nhà quản lý và toàn xã hội, đồng thời đang đặt ra cho bảo vệ thực vật những trách nhiệm nặng nề.

Cùng với việc gia tăng sử dụng rau quả, yêu cầu chặt chẽ về vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay rất cao. Do đó, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trong rau, quả đang thực sự trở thành vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Nó là yêu cầu cấp thiết của người tiêu dùng, người sản xuất. Đó cũng là yêu cầu bức bách của xã hội vì sự an toàn của sức khỏe cộng đồng và môi trường cũng như sự phát triển bền vững của bản thân nông nghiệp. Thực trạng trong những năm qua, tình trạng ngộ độc thực phẩm ở Việt Nam đã ở mức đáng báo động. Theo thống kê của Bộ Y tế, từ 2007 đến tháng 7/2013 như sau: số vụ bị ngộ độc thực phẩm: 1182 vụ, số nạn nhân bị ngộ độc: 38131 người (282 người chết). Số người phải đi bệnh viện vì ngộ độc: 29831 người.

Trong số đó ngộ độc vì thực phẩm rau quả mất vệ sinh an toàn thực phẩm chiếm tỷ lệ không nhỏ, và một nguyên nhân gây mất vệ sinh an toàn thực phẩm đối với rau quả là dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật.

Như vậy, công tác bảo vệ thực vật và hệ thống tổ chức chuyên ngành bảo vệ thực vật phải làm sao góp phần quan trọng, nhiều khi quyết định đến chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm của sản phẩm rau quả, mà trước hết là tiêu chuẩn về dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trên rau quả cũng như trong môi trường sản xuất và chế biến rau quả.

3. Sản xuất rau quả theo quy trình “Thực hành nông nghiệp tốt-GAP” cũng là xu hướng tất yếu của phát triển nông nghiệp bền vững ở thế giới và nước ta

Tại Hội thảo, các đại biểu đều thống nhất về yêu cầu cấp thiết và tất yếu phải thực hiện GAP trong sản xuất rau an toàn, đánh giá thực trạng của sản xuất rau an toàn, Gap hiện nay, định hướng mở rộng trong thời gian tới cũng như vai trò rất quan trọng của bảo vệ thực vật trong quá trình này, thể hiện cụ thể như sau:

3.1. Thống nhất về nội dung và vai trò của VietGap trong sản xuất rau an toàn

Quy trình Vietgap là quy trình sản xuất nông nghiệp tốt, bao gồm những nguyên tắc, trình tự, nội dung, thủ tục, hướng dẫn các tổ chức và cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khoẻ người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm.

Qua những mục tiêu, nội dung của VieGap trên rau an toàn chúng ta thấy vai trò rất quan trọng của yếu tố bảo vệ thực vật, đặc biệt nội dung kỹ thuật cốt lõi của VietGap là IPM, ICM , quản lý và sử dụng hiệu quả, an toàn thuốc bảo vệ thực vật, một trong 4 tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của rau an toàn theo VietGap (và là tiêu chuẩn quan trọng nhất) là dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trên sản phẩm rau tươi.

3.2 .  Hiện trạng sản xuất rau an toàn ở Việt Nam

- Về Chủ trương: đã có nhiều văn bản pháp lý của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Tỉnh về quản lý và chứng nhận sản xuất rau an toàn, của các Bộ nghành có liên quan đã được ban hành. Những kết quả bước đầu về nâng cao nhận thức của cả người sản xuất, nhà quản lý, nhà khoa học, người tiêu dùng và xã hội về  hiểu biết và cần thiết của VietGap đã được ghi nhận.

Quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn, chỉ đạo xây dựng mô hình VietGap, huấn luyên cho nông dân về sản xuất rau an toàn theo VietGap bước đầu đã cho kết quả thuyết phục ở nhiều địa phương. Theo số liệu thống kê đến 2012 của Cục trồng trọt.

- Về huấn luyện: Cục Trồng trọt, các Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn và  Dự án QSEAP đã tổ chức huấn luyên và tập huấn cho 103.226 cán bộ quản lý, kỹ thuật và nông dân về sản xuất rau an toàn, VietGap và tổ chức quản lý sản xuất rau an toàn.

- Về Quy hoạch vùng sản xuất an toàn tập trung: đến năm 2012 có 14 tỉnh, thành phố đã phê duyệt quy hoạch 214.019 ha, trong đó diện tích chè 82.293 ha; rau 55.761 ha và quả 75.965 ha.

- Về chứng nhận và mở rộng sản xuất rau an toàn: tổng số 696 Giấy chứng nhận VietGAP được cấp cho 7.510 ha rau, quả, chè, lúa, gần 500 ha rau, quả được chứng nhận GlobalGAP... Từ năm 2008 đến nay, cả nước có khoảng 70.000 ha sản xuất theo GAP hoặc theo hướng GAP. Đối với sản xuất rau an toàn, cho đến nay có khoảng 10-15 % diện tích đã áp dụng VietGap.

Đáng chú ý là cả 4 tỉnh đang dẫn đàu về phát triển sản xuất rau an toàn trong cả nước (Hà nội, Vĩnh phúc, Lâm đồng, Thành phố Hồ Chí Minh) đều do Chi cục bảo vệ thực vật chủ trì triển khai chương trình. Điều này cũng khẳng định vai trò quan trọng của tổ chức bảo vệ thực vật ở địa phương đối với sản xuất rau an toàn.                                  

3.3. Tác động tích cực của VietGap đến việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

Nội dung bảo vệ thực vật trong VietGap thực chất là áp dụng công nghệ quản lý dịch hại tổng hợp-IPM, theo đó việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thực hiện theo các nguyên tắc IPM và kỹ thuật 4 đúng, nâng cao hiệu quả, đảm bảo an toàn hơn, giảm thiểu sử dụng và nguy cơ của thuốc bảo vệ thực vật.

Thực tế áp dụng công nghệ sản xuất rau an toàn ở nhiều địa phương cho thấy: giảm 40-60% số lần phun và số lượng cũng như chi phí sử dụng thuốc bảo vệ thực vật mà năng suất vẫn đảm bảo, nhiều khi tăng 3-5%, lợi nhuận tăng 5-10%, khoảng 0,5-1,5 triệu đồng/1ha, giá thành giảm, tỷ lệ thuốc sinh học đạt tới 40-60%, mật độ kí sinh thiên địch tăng so đối chứng.

Những mô hình sản xuất rau an toàn, VietGap ở Hà nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Lâm đồng, Bắc ninh, Vĩnh phúc… đều cho kết quả tương tự. Rõ ràng việc thực hiện VietGap có tác động tích cực đến hiệu quả công tác bảo vệ thực vật nói chung và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nói riêng theo hướng giảm thiểu sử dụng thuốc, sử dụng thuốc ít độc hại, sử dụng đúng kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sử dụng. Ngược lại việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là một yếu tố rất quan trọng trong sản xuất rau an toàn cũng như trong đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm của rau.

3.4. Những khó khăn và hạn chế trong phát triển sản xuất rau an toàn, VietGap

Hội thảo cũng hoàn toàn nhất trí với các ý kiến nêu lên về khó khăn và hạn chế chủ yếu hiện nay trong phát triển sản xuất rau an toàn, VietGap, đó là:

- Về tổ chức sản xuất: còn rất manh mún, thiếu các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh, quy mô hộ nhỏ lẻ phân tán rất khó ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, khó khăn về huấn luyện, khó kiểm soát về thực hiện quy trình sản xuất và chất lượng sản phẩm. Việc tham gia của các doanh nghiệp, các trang trại quy mô vừa và lớn do nhiều lý do còn rất hạn chế. Đây là một trong hai nút thắt quan trọng nhất (cùng với việc tiêu thụ) đối với phát triển nhanh, bền vững sản xuất rau an toàn, VietGap hiện nay ở nước ta.

- Chưa gắn kết giữa sản xuất với chứng nhận sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm

Hầu hết ý kiến đều cho rằng khó khăn hiện tại không phải là vấn đề kỹ thuật mặc dù về kỹ thuật cũng còn nhiều việc phải hoàn tất, mà đó là khâu tiêu thụ sản phẩm, trong tiêu thụ còn đang thiếu việc chứng nhận rau an toàn thông qua hình thức nhãn hay logo trên sản phẩm do đó người tiêu dùng không phân biệt được rau an toàn và rau thông thường, thiếu niềm tin vào rau an toàn, giá cả không có phân biệt. Mạng lưới tiêu thụ rau an toàn chưa linh hoạt phù hợp với các điều kiện sống và sinh hoạt của dân cư.

- Hoạt động truyền thông thiếu kiểm soạt vì vây nhiều khi chưa chính xác, tạo dư luận quá lo lắng một cách cực đoan về tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm của rau hiện nay, nhất là nỗi lo quá mức về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, trong khi trên thực tế chỉ có khoảng không quá 8-10% sản phẩm rau chưa an toàn.

- Một số chính sách về đầu tư và quản lý sản xuất rau an toàn chưa đồng bộ, nặng về đầu tư hạ tầng cơ sở, về kỹ thuật, chưa chú ý khâu tổ chức sản xuất và tiêu thụ, chưa coi trọng lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng.

3.5. Định hướng phát triển sản xuất rau an toàn trong thời gian tới

Hội thảo thống nhất với định hướng phát triển sản xuất rau an toàn, cụ thể như sau:

a/ Định hướng áp dụng GAP

Cần khẳng định trong nhận thức, chủ trương và hành động sự tất yếu phải áp dụng VietGap trong trồng trọt nói chung và đặc biệt trong sản xuất rau an toàn ở nước ta. Tuy nhiên áp dụng GAP là một quá trình khó khăn, cần kiên trì chỉ đạo áp dụng cho phù hợp với yêu cầu của thị trường và điều kiện cụ thể của từng địa phương với các cấp độ sau:

- Mức độ tối thiểu: bắt buộc áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật (QCKT) về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất và điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với sản phẩm trong quá trình sản xuất. Đây là phương thức sản xuất rau an toàn đại trà cho tiêu thụ phổ biến hiện nay ở nước ta. Có thể gọi sản phẩm của loại hình sản xuất này là rau an toàn.

- Mức độ cao: khuyến khích áp dụng đầy đủ các chỉ tiêu của GAP bao gồm:

+ VietGAP đối với các sản phẩm rau, quả, chè, lúa gạo, cà phê… để tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu. Có thể gọi sản phẩm loại này là Rau VietGap.

+ Tiêu chuẩn rau hữu cơ để phục vụ thị trường cao cấp trong nước và xuất khẩu. Có thể gọi sản phẩm này là Rau hữu cơ.

b/ Đặc biệt coi trọng các giải pháp đồng bộ, thực tế, linh hoạt và hiệu quả trong công đoạn tổ chức sản xuất và công đoạn tiêu thụ phù hợp với phương thức tổ chức sản xuất, khả năng đầu tứ, đối tượng tiêu dùng. Khuyến khích các doanh nghiệp và trang trại tham gia sản xuất rau an toàn, mạng lưới các siêu thị, cửa hàng, sàn giao dịch chợ kinh doanh rau an toàn. Gắn kết giữa nhà nước với nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và người tiêu thụ trong chuỗi sản xuất và tiêu dung rau an toàn.

3. Khẳng định vai trò cực kỳ quan trọng của thuốc bảo vệ thực vật đối với sản xuất rau an toàn

Rất nhiều ý kiến  đã nói lên vai trò to lớn của thuốc bảo vệ thực vật từ khâu quản lý, sản xuất kinh doanh đến sử dụng trong sản xuất rau an toàn. Có thể thấy vai trò của thuốc bảo vệ thực vật thể hiện qua các hoạt động và nội dung sau:

- Đánh giá về thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho rau, đặc biệt là những hạn chế là nguyên nhân quan trọng làm mất an toàn thực phẩm đối với rau hiện nay

- Xây dựng danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng cho rau, đặc biệt chú ý đến tính độc hại, thời gian cách ly cho sản xuất rau an toàn.

- Xử lý tình trạng phát tải vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật đã sử dụng trên đồng ruộng, đang được coi là vấn nạn cho môi trường và an toàn thực phẩm hiện nay, thường chiếm khoảng 12-14%  lượng thuốc vảo vệ thực vật sử dụng hàng năm.

- Tăng cường công tác quản lý sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho rau cả về mặt pháp luật, kỹ thuật, xây dựng mạng lưới kỹ thụât và sản xuất kinh doanh về bảo vệ thực vật, quảng cáo tiếp thị thuốc bảo vệ thực vật.

4. Cần nghiên cứu và áp dụng các giải pháp kỹ thuật, các công nghệ mới trong bảo vệ thực vật phục vụ sản xuất rau an toàn, bao gồm

- Những giải pháp kỹ thuật hỗ trợ giám sát chất lượng rau an toàn theo VietGAP như: nâng cao năng lực quản lý dịch hại (điều tra, phát hiện, dự báo và ra quyết định phòng trừ) cho người sản xuất, tìm được các giải pháp thay thế  thuốc hóa học, điều chỉnh các quy trình phòng trừ sâu bệnh tổng hợp theo giai đoạn sinh trưởng của cây; tìm các giải pháp hữu hiệu để thu gom và xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật nhằm đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường trong các vùng sản xuất.

- Có các giải pháp đồng bộ để mở rộng ứng dụng công nghệ IPM, ICM trong sản xuất rau an toàn vừa đảm bảo chất lượng, vừa giảm thiểu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn môi trường trong sản xuất rau an toàn.

- Ứng dụng rộng rãi công nghệ sinh học, đặc biệt là các chế phẩm EM, thuốc sinh học bảo vệ thực vật để thay thế một số hóa chất bảo vệ thực vật.

- Tiếp tục nghiên cứu ứng dụng công nghệ nano bạc tạo ra các chế phẩm sử dụng trong khử trùng, xử lý môi trường, phòng trừ một số bệnh haị cây trồng, nhất là bệnh từ đất. Đây là một công nghệ mới có nhiều ưu điểm cần được quan tâm.

- Nhanh chóng phổ cập cho các tổ chức bảo vệ thực vật, đặc biệt là các Chi cục bảo vệ thực vật, công ty bảo vệ thực vật áp dụng phần mềm trực tuyến tra cứu nhanh thuốc bảo vệ thực vật phục vụ cho sản xuất rau an toàn và quản lý sản xuất rau an toàn. Cần coi đây là một tiến bộ kỹ thuật mới rất hữu ích.

Những giải pháp kỹ thuật và công nghệ nêu trên đều là những nội dung kỹ thuật quan trọng của công tác bảo vệ thực vật và thêm những khẳng định về vai trò quan trọng của bảo vệ thực vật đối với sản xuất rau an toàn và VietGap.

II. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT

Qua nội dung các báo cáo khoa học-thực tiễn, các phát biểu tham luận và ý kiến phát biểu trao đổi tại hội thảo „Bảo vệ thực vật với sản xuất rau an toàn ở Việt nam“, Hội khoa học kỹ thuật bảo vệ thực vật Việt nam xin có một số đề xuất sau đây:

1. Cần khẳng định vai trò hết sức quan trọng của bảo vệ thực vật đối với sản xuất rau an toàn và sự phát triển nhanh và bền vững sản xuất rau an toàn và VietGap ở nước ta

Vai trò quan trọng đó được thể hiện ở các nội dung sau:

- Nghiên cứu thành phần, phát sinh, gây hại và biện pháp phòng trừ tổng hợp của những sâu bệnh chủ yếu trên các cây rau chủ yếu, đặc biệt trong sản xuất rau tập trung, chuyên canh theo VietGap.

- Xây dựng các nội dung về công nghệ IPM và công nghệ sinh học bảo vệ thực vật, một số công nghệ khác có liên quan như công nghệ EM, công nghệ thông tin, công nghệ nano, công nghệ sinh thái… và tích hợp vào quy trình sản xuất rau an toàn, VietGap rau cho từng cây rau ở từng vùng sinh thái.cũng như quy trình quản lý sản xuất rau an toàn.

- Nghiên cứu nhập khẩu, khảo nghiệm, tuyển chọn để xây dựng danh mục, bộ thuốc bảo vệ thực vật phù hợp với sản xuất rau an toàn và VietGap đối với từng cây, nhóm rau.

- Xây dựng mạng lưới sản xuất kinh doanh cung ứng thuốc bảo vệ thực vật cho vùng sản xuất rau an toàn.

- Xây dựng mạng lưới bảo vệ thực vật-khuyến nông cơ sở phục vụ sản xuất rau an toàn.

- Tăng cường quản lý, thanh tra về sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc sản xuất rau an toàn trong vùng sản xuất rau an toàn.

- Góp phần cùng các ngành chức năng xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất rau an toàn, VietGap, đặc biệt về các nội dung liên quan đến bảo vệ thực vật và thuốc bảo vệ thực vật.

- Tham gia tích cực việc kiểm tra, kiểm soát về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên rau trong sản xuất cũng như lưu thông.

- Chủ trì hoặc tham gia chủ trì thành công các chương trình, đề án, dự án trong nước và hợp tác quốc tế về phát triển sản xuất rau an toàn và VietGap cấp quốc gia và địa phương.

Ngược lại, phát triển sản xuất rau an toàn, VietGap cũng có tác động tích cực đến hoạt động bảo vệ thực vật, đặc biệt trong việc giảm thiểu sử dụng, giảm thiểu nguy cơ của thuốc bảo vệ thực vật, nâng cao hiệu quả và an toàn trong  sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thúc đẩy các yêu cầu nghiên cứu về bảo vệ thực vật liên quan đến sản xuất rau an toàn và VietGap.

2. Nhà nước ta cần khẳng định sự đúng đắn và cấp thiết của chủ trương phát triển sản xuất rau an toàn và thực hiện sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGap, từ đó có những chính sách, giải pháp đồng bộ về tổ chức, quản lý, đầu tư, công nghệ, đào tạo nhân lực, tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Chú ý gắn kết hiệu quả giứa quản lý với kỹ thuật, tổ chức sản xuất với tiêu thụ, giữa nhà nước với nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và người tiêu dùng. Cần có phân loại các cấp độ khác nhau về tiêu chuẩn chất lương. của rau an toàn, có thể có 3 cấp độ là rau an toàn, rau VietGap và rau hữu cơ trong pham trù chung là rau sạch.

Trước mắt giải quyết tập trung hai nút thắt của phát triển sản xuất rau an toàn là khâu tổ chức sản xuất và khâu tiêu thụ sản phẩm.

3. Ngành bảo vệ thực vật cũng cần khẳng định vai trò hết sức quan trọng của mình đối với sản xuất rau an toàn và VietGap từ đó có sự tổ chức lại và đổi mới trong hoạt đông bảo vệ thực vật để đảm nhiệm tốt vai trò này trong nhận thức về tính “đa chức năng” của bảo vệ thực vật liên quan đến quản lý dịch hại tổng hợp - IPM, quản lý canh tác tổng hợp - ICM, đến an toàn thực phẩm và môi trường trong xu thế phát triển của một nền “nông nghiệp đa chức năng” của thế giới.

Để bảo vệ thực vật đáp ứng tốt nhiệm vụ phục vụ phát triển sản xuất rau an toàn, VietGap, theo chúng tôi trước mắt hoạt động bảo vệ thực vật và ngành bảo vệ thực vật cần tập trung vào 3 nhóm giải pháp sau đây:

- Một là, tập trung giải quyết có tính đột phá vào nhóm công việc về quản lý, cung cấp và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đối với sản xuất rau an toàn: xây dựng danh mục và bộ thuốc đặc hiệu cho sản xuất rau an toàn, tổ chức khoa học và hợp lý, có thể kiểm soát mạng lưới cung ứng thuốc bảo vệ thực vật cho sản xuất rau an toàn bao gồm các công ty và đại lý thuốc bảo vệ thực vật, công nghệ hóa nguyên tắc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo 4 đúng thành các quy trình cụ thể, tăng cường tập huấn, huấn luyện cho nông dân, kỹ thuật viên bảo vệ thực vật cơ sở và đặc biệt các đại lý nông dược về kỹ thuật sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả và an toàn, tăng cường thanh kiểm tra việc sản xuất kinh doanh và sử dungh thuốc bảo vệ thực vật theo pháp luật.

- Hai là nhóm giải pháp về khoa học công nghệ: nghiên cứu đặc điểm phát sinh, gây hại của những sâu bệnh hại chủ yếu và sâu bệnh mới đối với từng cây và nhóm cây rau trong từng vùng sản xuất, chú ý trong điều kiện sản xuất rau an toàn tập trung, chuyên canh, nghiên cứu xây dựng phương pháp điều tra phát hiện sâu bệnh chủ yếu gắn với thời kỳ sinh trưởng chế độ canh tác của rau , dễ thực hiện, có thể xác định ngưỡng phòng trừ phục vụ cho quyết định sử dụng thuốc, tham gia xây dựng các quy trình Vietgap cho rau, nghiên cứu về ứng dụng sinh học bảo vệ thực vật, đặc biệt là các chế phẩm sinh học, thuốc sinh học bảo vệ thực vật sử dụng cho rau an toàn thay thế hóa chất bảo vệ thực vật, nâng tỷ lệ thuốc sinh học bảo vệ thực vật, ít độc hại lên trên 50%?

Nghiên cứu mở rộng ứng dụng một số công nghệ hiện đại, mới như là các tiến bộ kỹ thuật trong quản lý dịch hại, quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nâng cao hiệu quả, giảm thiểu sử dụng và nguy cơ thuốc bảo vệ thực vật như: công nghệ quản lý dịch hại tổng hợp -IPM, công nghệ vi sinh hữu hiệu-EM, công nghệ nano bạc, công nghệ tin học tra cứu thuốc bảo vệ thực vật trực tuyến, công nghệ sinh thái bảo vệ thực vật…

- Ba là nhóm giải pháp về quản lý  và tổ chức, trong đó đặc biệt chú ý mạng lưới kỹ thuật viên bảo vệ thực vật cơ sở, đảm bảo mỗi xã vùng sản xuất rau an toàn có một cán bộ kỹ thuật chuyên trách về bảo vệ thực vật, từng bước chuẩn hóa về chuyên môn với các chủ đại lý thuốc bảo vệ thực vật, chú trọng lực lượng thanh tra, kiểm soát chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thực phẩm an toàn của Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh, thành phố, tham gia đóng góp thiết thực và tích cực trong việc xây dựng, ban hành và thực thi chính sách về bảo vệ thực vật, quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường liên quan đến sản xuất rau an toàn, đặc biệt trong việc triển khai Luật Bảo vệ  và Kiểm dịch thực vật.

4. Đề nghị Chính phủ, các cơ quan hữu quan của Quốc Hội, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ ngành liên quan, Liên hiệp hội khoa học kỹ thuật Việt nam, các địa phương trọng điểm sản xuất rau an toàn trong cả nước quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho ngành bảo vệ thực vật nói chung và tổ chức Hội khoa học kỹ thuật bảo vệ thực vật Việt nam trong việc tham gia nhiệm vụ phát triển sản xuất rau an toàn và VietGap ở nước ta, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, an toàn và bền vững.

Nơi nhận                                                  

- Như Kg

- Cục BVTV

- Lưu VP

 

T/M HỘI KHKT BVTV VIỆT NAM

Q.Chủ Tịch - Tổng thư ký

 

 

 

 

Nguyễn Quang Hiếu

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp