Bảo vệ thực vật với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững

Về chúng tôi

T5, 07/16/2015 - 15:30











BẢO VỆ THỰC VẬT

VỚI TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

                                                                    Trương Quốc Tùng

 

Thế kỷ 20 thế giới đã chứng kiển và được ghi nhận về những thành tựu lớn lao trong phát  toàn cầu cả về mặt chính trị, kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ, môi trường, con người. Bước vào thế kỷ 21, trong tư duy phát triển cũng như thực tiễn phát triển, cả thế giới và ở từng quốc gia, người ta thấy sự phát triển của loài người bên cạnh những thành tựu ngày càng phải đối mặt với nhiều mâu thuẫn, thách thức và cả nguy cơ. Đó là mâu thuẫn giữa phát triển hiện tại, trước mắt với yêu cầu bền vững của phát triển, đó là sự xuống cấp và ô nhiễm ngày càng tăng của môi trường sống, môi trường sinh thái, đó là sự gia tăng ở nhiều nơi sự đói nghèo và khoảng cách giàu nghèo giũa các châu lục, các quốc gia, các tầng lớp xã hội, đó là mâu thuẫn giữa phát triển riêng lẻ với nhu cầu tất yếu ngày càng tăng của sự liên kết và hội nhập, dó là sự bùng nổ những chiến tranh dù cục bộ, bùng nổ dịch hại, là nguy cơ nhãn tiền về biến đổi khí hậu với những hậu quả khôn lường, đó là sự xuất hiện ngày càng tăng các nguy cơ thiếu ổn định và khủng hoảng kinh tế - xã hội.

Từ đó xuất hiện ngày càng tăng, càng cấp bách có tính toàn cầu và của từng quốc gia về một tư duy chiến lược phát triển mới với những chương trình hành động mới - Đó là phát triển bền vững, kinh tế xanh, tăng trưởng xanh.

Đảng và Nhà nước, Chính phủ Việt nam cũng đã tiếp cận được tư duy chiến lược này và gần đây đã có những chủ trương quan trọng về những vấn đề này, đặc biệt thể hiện ở các văn bản sau:

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020, số 432/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2012.

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, số 1393/QĐ-TTg , ngày 25/9/2012.

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, số 1216/QĐ-TTg, ngày 05 tháng 9 năm 2012.

- Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế

- Nghị quyết số 31/NQ-CP của Chính phủ về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 22 của Bộ chính trị về hội nhập quốc tế.

- Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyêt đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020 và Quyết định số 899/QĐ-CP ngày 10/6/2013 phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

1. Phát triển bền vững và tăng trưởng xanh

Vậy phát triển bền vững và tăng trưởng xanh theo quan điểm hiện đại là gì?

Năm 2002, tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững được tổ chức ở Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi với sự tham gia của các nhà lãnh đạo, kinh tế, khoa học của trên 200 quốc gia đã thống nhất khái niệm: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, đó là sự phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về xã hội và phát triển bền vững về môi trường.Sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai..."1.

Một nội dung quan trọng của phát triển bền vừng là “Kinh tế xanh” và “Tăng trưởng xanh”

Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) định nghĩa "kinh tế xanh" là một nền kinh tế nhằm cải thiện hạnh phúc con người, công bằng xã hội và giảm thiểu đáng kể những nguy cơ kiệt quệ về môi sinh. Chuyển dịch sang nền kinh tế xanh sẽ làm chậm lại sự gia tăng của hàm lượng các-bon và ngăn chặn biến đổi khí hậu. Sẽ có lợi cho sức khỏe con người, đảm bảo tính chịu đựng của hành tinh và sự sống còn của nhân loại. Thị trường toàn cầu hóa sẽ đi theo những chuỗi giá trị cung cầu xanh, với các dòng chảy mậu dịch và đầu tư được quy định nghiêm ngặt theo những nguyên lý bền vững.

Còn "Tăng trưởng xanh" là định hướng mới thúc đẩy kinh tế phát triển theo những mô hình tiêu thụ và sản xuất bền vững, nhằm đảm bảo nguồn vốn tự nhiên tiếp tục cung cấp những nguồn lực và dịch vụ sinh thái mà đời sống của chúng ta phụ thuộc vào, cho thế hệ này cũng như cho những thế hệ mai sau.

Còn Ngân hàng thế giới (World Bank) thì cho rằng “Tăng trưởng xanh là quá trình tăng trưởng sử dụng tài nguyên hiệu quả, sạch hơn và tăng cường khả năng chống chịu mà không làm chậm quá trình này”.

Vậy có thể nói "Tăng trưởng xanh" và "kinh tế xanh" có quan hệ rất mật thiết với nhau. Để có được tăng trưởng xanh thì không thể không có kinh tế xanh và ngược lại. Đồng thời Kinh tế xanh, Tăng trưởng xanh là trụ cột của phát triển bền vững.

Ở nước ta, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2012 về Phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Mục tiêu tổng quát của Chiến lược này là tăng trưởng bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội góp phần đảm bảo cho phát triển bền vững.

Mục tiêu cụ thể của Chiến lược nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các cân đối lớn; giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh tài chính. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế các bon thấp. Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả mọi nguồn lực. Giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường.

Các định hướng ưu tiên nhằm phát triển bền vững trong giai đoạn 2011-2020:

Về kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo. Nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các chính sách tài chính, tiền tệ. Xây dựng và thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh, đảm bảo phát triển nền kinh tế theo hướng các bon thấp. Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Đẩy mạnh áp dụng rộng rãi sản xuất sạch hơn để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên quốc gia. Bảo đảm an ninh lương thực trên cơ sở bảo vệ 3,8 triệu hecta diện tích đất lúa, đảm bảo nguồn cung lương thực, nhu cầu dinh dưỡng và khả năng tiếp cận lương thực của người dân.

Phát triển bền vững các vùng và địa phương cần tập trung ưu tiên phát triển trước các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời chú ý tới vùng kém phát triển và có điều kiện khó khăn hơn nhằm tạo ra sự phát triển cân đối. Phát triển nông thôn bền vững phải bao gồm 4 quá trình: 1- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa; 2- Đô thị hóa; 3- Kiểm soát dân số; 4- Bảo vệ môi trường sinh thái.

Về xã hội, theo quyết định cần đẩy mạnh công tác giảm nghèo theo hướng bền vững, ưu tiên nguồn lực để giảm nghèo và nâng cao điều kiện sống cho đồng bào ở những vùng khó khăn nhất. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo; phát triển kinh tế thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao; phát triển sản xuất hàng hóa; trợ giúp việc học nghề.

Ngoài ra, mục tiêu về xã hội phải bảo đảm ổn định quy mô, cải thiện và nâng cao chất lượng dân số. Phát triển văn hóa hài hòa với phát triển kinh tế, xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam. Khuyến khích phát triển các thành phố quy mô trung bình và nhỏ; giảm bớt sự khác biệt giữa các vùng, khu vực nông thôn với thành thị, giữa các cộng đồng dân cư và tạo sự hòa nhập xã hội bền vững.

Cần đổi mới cơ bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề, đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức...

Về tài nguyên môi trường, Quyết định nêu rõ,chống thoái hóa, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất. Tăng cường sử dụng hiệu quả các loại đất; bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước. Theo đó, cần tăng cường xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải ở các đô thị và khu công nghiệp; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản. Chú trọng việc xây dựng chiến lược, quy hoạch điều tra, khai thác khoáng sản; bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển để đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững.

Ưu tiên bảo vệ và phát triển rừng, đảm bảo khả năng tái tạo và sử dụng rừng một cách tối ưu. Giảm thiểu ô nhiễm không khí và tiếng ồn ở các đô thị và khu công nghiệp. Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại nhằm cải thiện chất lượng môi trường.

Quyết định đã đưa ra các nhóm giải pháp thực hiện hoàn thiện Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 gồm: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế phát triển bền vững, nâng cao chất lượng quốc gia đối với phát triển bền vững đất nước. Tăng cường các nguồn lực tài chính để thực hiện phát triển bền vững bằng cách tăng cường đầu tư và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước thực hiện Chiến lược. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ, các nguồn đầu tư từ xã hội, nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện phát triển bền vững.

Để đảm bảo phát triển bền vững cần tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về phát triển bền vững; tăng cường năng lực quản lý và thực hiện phát triển bền vững bằng cách tăng cường đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực cho các cơ quan nghiên cứu về phát triển bền vững; Nâng cao vai trò, trách nhiệm và tăng cường sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức phi chính phủ; Phát triển nguồn nhân lực cho thực hiện phát triển bền vững; Tăng cường vai trò và tác động của khoa học và công nghệ, đẩy mạnh đổi mới công nghệ trong thực hiện phát triển bền vững. Chú trọng phát triển các ngành, lĩnh vực khoa học, công nghệ làm nền tảng cho phát triển bền vững; Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực trao đổi thông tin, chủ động tham gia cùng cộng đồng quốc tế giải quyết những vấn đề liên quan đến phát triển bền vững./.

2. Tăng trưởng xanh ở Việt Nam

Tăng trưởng xanh là nội dung chủ yếu của phát triển bền vững. Các tổ chức của Liên hiệp quốc UECD và UNESCAP đưa ra định nghĩa "Tăng trưởng xanh là phương thức đạt được các mục đích kinh tế và phát triển đi đôi với bảo vệ môi trường, ngăn ngừa suy giảm đa dạng sinh học, giảm thiểu việc sử dụng không bền vững các nguồn tài  nguyên, giảm thiểu phát thải cacbon, thúc đẩy an sinh xã hội".

Từ kinh nghiệm của một số quốc gia, từ kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học, nhiều nhà khoa học đã tổng hợp những kết quả thu được từ tăng trưởng xanh bao gồm:

(a) Tăng trưởng kinh tế bền vững. Sự phát triển kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh khắc phục được những tác động thiếu bền vững của hoạt động kinh tế như trong thời gian vừa qua.

(b) Sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên của đất nước: tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên xã hội, tài nguyên nhân lực, tài nguyên tài chính, tài nguyên công cụ máy móc. Với trình độ của nhân lực được nhân lên không ngừng, phát triển theo hướng tăng trưởng xanh, các nguồn tài nguyên trước đây được sử dụng có hiệu quả hơn, tiết kiệm hơn.

(c) Môi trường sống, môi trường sản xuất trở nên trong lành hơn, sạch hơn, đẹp hơn cùng với tăng trưởng xanh.

(d) An sinh xã hội được đảm bảo. Đói nghèo ở các vùng nông thôn giảm, đời sống của nhân dân, nhất là ở các vùng nông thôn được cải thiện đáng kể, chênh lệch trong đời sống giữa thành thị và nông thôn, giữa nhóm người giàu nhất và nhóm người nghèo nhất được thu hẹp.

(đ) Giảm phát thải khí cacbon, giảm chất thải, giảm ô nhiễm môi trường.

(e) Tài nguyên thiên nhiên cũng ngày càng giàu hơn. Đa dạng sinh học được bảo vệ , tính bền vững của phát triển được đảm bảo cho trước mắt cũng như cho tương lai.

Việt Nam đang thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 với nhiều thách thức về ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo chất lượng môi trường và an sinh xã hội trong bối cảnh quốc tế không thuận lợi và chịu nhiều tác động tiêu cực do tăng trưởng thấp, khủng hoảng nợ công ở nhiều quốc gia và biến đổi khí hậu. Và để đảm bảo được những mục tiêu phát triển như trên, tháng 9 năm 2012, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh.

Tăng trưởng xanh ở Việt nam là mô hình tăng trưởng dựa vào quá trình thay đổi các mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nhằm khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh, tăng hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh thông qua nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm khí thải nhà kính, đối phó biến đổi khí hậu, góp phần giảm nạn đói nghèo, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam cũng đề ra 3 nhiệm vụ quan trọng là: 1) giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo. 2) Xanh hóa sản xuất. Thực hiện một chiến lược "công nghiệp hóa sạch" thông qua rà soát, điều chỉnh những quy hoạch ngành hiện có, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường, đầu tư phát triển vốn tự nhiên; tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ sạch. 3) Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia nước ta xác định: Tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu. Tăng trưởng xanh phải do con người và vì con người, góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Tăng trưởng xanh dựa trên tăng cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện nâng cao chất lượng môi trường, qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng xanh phải dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam. Tăng trưởng xanh là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, các cấp chính quyền, các Bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp và tổ chức xã hội.

Phương thức tăng trưởng xanh là con đường tốt nhất để giúp Việt Nam thu hẹp khoảng cách phát triển trong thời gian tương đối ngắn, nhờ sử dụng hiệu quả nội lực và toàn cầu hóa Mục tiêu tổng quát của Chiến lược Tăng trưởng xanh: thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng tận dụng lợi thế so sánh một cách chủ động và sáng tạo, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Với quan điểm trên, Chiến lược Tăng trưởng xanh ở Việt Nam là phương thức thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế để tiến tới việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính thông qua nghiên cứu và áp dụng công nghệ hiện đại, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng để nâng cao hiệu quả kinh tế, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế một cách bền vững.

Trên cơ sở các quan điểm, nội dung và mục tiêu của Tăng trưởng xanh nêu trên sẽ phải đề ra các nội dung phát triển cụ thể cho từng lĩnh vực kinh tế - xã hội cả về chính sách, luật pháp, đầu tư, mục tiêu, nội dung và giải pháp.

Trong điều kiện hiện nay, theo ý kiến chúng tôi, trong 10-15 năm tới chúng ta nên từng bước và tích cực thực hiện Tăng trưởng xanh ở các lĩnh vực: công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh, công nghệ xanh, môi trường xanh, văn hóa xanh, du lịch xanh, giáo dục xanh, y tế xanh, tiêu dùng xanh và thông tin xanh.

Như vậy ta có thể dễ dàng thấy với chiến lược này, Việt Nam đang đi theo xu hướng đúng đắn mà nhiều nước trên thế giới đang đi theo.

3. Nông nghiệp đa chức năng và bền vững

Phát triển bền vững, thực hiện nền kinh tế xanh với tăng trưởng xanh tất yếu phải thay đổi sự phát triển của nông nghiệp với tư duy đổi mới có tính chiến lược và cách mạng theo hướng phát triển một nền nông nghiệp đa chức năng, xanh, hiện đại và bền vững.

Những thập niên trước đây, người ta thường nhấn mạnh và tiếp cận tính chuyên sâu, hiệu quả và biệt lập của các chuyên ngành khoa học, kỹ thuật - từ khoa học cơ bản đến khoa học ứng dụng và công nghệ. Ngày nay trên cơ sở các phát minh mới về lý thuyết và thực tiễn sản xuất và cuộc sống, hình thành dần tư duy liên ngành, tổng hợp và phát triển bền vững cùng với sự phát triển các khoa học liên ngành, sự xâm nhập, liên kết giữa các khoa học và công nghệ. Toán học xâm nhập không những các ngành khoa học cơ bản như hóa học, vật lý, sinh học mà cả nhiều lĩnh vực khác như công nghệ sinh học, tin học và kinh tế... Các ngành khoa học kỹ thuật khác cũng như vậy. Khái niệm "ngành khoa học kỹ thuật đa chức năng" ra đời, phát triển cả về lý thuyết lẫn thực tiễn và đã góp phần thúc đẩy quan trọng sự phát triển của kinh tế, đời sống, xã hội theo hướng tổng hợp và bền vững.

Thế giới ngày nay không còn nhìn nhận nông nghiệp là ngành đơn chức năng như trước (chỉ sản xuất ra sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi) mà đã trở thành ngành sản xuất đa chức năng. Nông nghiệp ngày nay gắn kết rất chặt chẽ hữu cơ với rất nhiều lĩnh vực khác như: công nghiệp (nhất là công nghiệp chế biến, cơ khí và tự động hóa), môi trường, phát triển bền vững, tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, lao động xã hội, kinh tế đối ngoại, khoa học công nghệ, công nghệ thông tin, truyền thông. Điều này sẽ có tác động qua lại rất chặt chẽ giữa nông nghiệp và đa ngành cũng như vai trò tăng lên của nông nghiệp trong nền kinh tế chung.

Trong điều kiện ấy sự ra đời và phát triển của nông nghiệp đa chức năng là tất yếu.

Do vậy, muốn phát triển tốt nông nghiệp trong thời gian tới trước hết cần nhận rõ vai trò đa chức năng của nông nghiệp. Nhận thức đối với chức năng nông nghiệp cũng phát triển theo sự phát triển thực tiễn của nông nghiệp thế giới.

Ngày nay nông nghiệp được thế giới coi là một lĩnh vực đa chức năng (multifunctional). Khái niệm đa chức năng của nông nghiệp mới xuất hiện gần đây với hàm ý là phải nhìn nhận nông nghiệp với mối quan hệ gắn kết với các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường.

Trước hết nông nghiệp là một hoạt động kinh tế - xã hội, đóng góp cho sự phát triển kinh tế các quốc gia; nó là một ngành mà đang tạo sinh kế cho 86% người dân sống ở nông thôn và sơ bộ tính vào khoảng 40% nhân loại đang dựa vào nông nghiệp làm sinh kế cho mình.

Phát triển nông nghiệp liên quan đến sự bình đẳng xã hội của nhiều quốc gia. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, ba phần tư số người nghèo tại các nước đang phát triển đang sống ở nông thôn. Chỉ riêng nông nghiệp chưa đủ để giảm nghèo diện rộng nhưng nó vẫn chứng minh được thế mạnh có một không hai trong giảm nghèo.

Việc phát triển nông nghiệp và bảo vệ môi trường ngày càng liên quan chặt chẽ với nhau, sản xuất nông nghiệp mà tàn phá môi trường thì không thể phát triển nông nghiệp bền vững.

Tính chất đa chức năng của nông nghiệp đòi hỏi chúng ta không chỉ xem xét nông nghiệp với những chỉ tiêu sản lượng, sản xuất bao nhiêu tấn lương thực v.v… Tất nhiên những chỉ tiêu đó rất quan trọng, nhưng còn xem xét cả việc xóa đói giảm nghèo, việc bảo vệ môi trường thiên nhiên.

Tính chất đa chức năng được trình bày trong một báo cáo nông nghiệp toàn cầu với đầu đề "Nông nghiệp đang tại ngã ba đường" dày trên 500 trang do hàng trăm chuyên gia trên thế giới tham gia chuẩn bị và đã được hội nghị liên chính phủ họp tại Johannesburg tại Nam Phi thông qua ngày 07-4-2008. Chủ đề chính của báo cáo là nhận xét những tác động của kiến thức nông nghiệp, khoa học và công nghệ đối với nông nghiệp trên các lĩnh vực: giảm đói nghèo; cải thhiện cuộc sống nông thôn, sức khỏe con người; phát triển bền vững về kinh tế, hài hòa cân bằng xã hội và cân bằng với môi trường đã đặt vấn đề phát triển nông nghiệp thế giới tương lai cần có những thay đổi.

Khái niệm đa chức năng công nhận nông nghiệp là một hoạt động đa dạng đầu ra không chỉ sản lượng hàng hóa, vẫn còn sản phẩm đầu ra phi hàng hóa như dịch vụ môi trường, cảnh quan và tiện nghi, di sản văn hóa.

Sản xuất lương thực phải có những cải tiến so với trước đây phải sản xuất lương thực bền vững, phải đảm bảo các thế hệ tiếp theo sau cũng có thể sản xuất đủ lương thực.

Nông nghiệp cũng là yếu tố chủ yếu tác động đến hệ sinh thái như nguồn nước ngọt, thải cácbon ra khí quyển. Xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững hơn về môi trường cũng đòi hỏi giảm tác động không tốt của hệ thống canh tác với hệ sinh thái.

Sự phát triển bền vững sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào quản lý hiệu quả nhiều phụ thuộc lẫn nhau về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên đất, nước, năng lượng.

Trên cơ sở của việc nhận rõ tính chất đa chức năng của nông nghiệp mà có các biện pháp phát triển nông nghiệp cho phù hợp với tình hình mới.

Việc nhận thức tính chất đa chức năng của nông nghiệp cũng phù hợp với quan điểm của thế giới về phát triển bền vững; phát triển không chỉ là tăng trưởng kinh tế. Phát triển bền vững bao gồm 3 loại mục tiêu: mục tiêu về kinh tế với những chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, hiệu quả kinh tế, ổn định kinh tế v.v... mục tiêuv ề xã hội với các chỉ tiêu về việc làm đầy đủ, công bằng xã hội v.v... mục tiêu về môi trường với việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên có tái tạo được, bảo tồn các tài nguyên không tái tạo được.

Như vậy, nếu nền nông nghiệp đơn thuần trước đây chỉ quan tâm đến mục tiêu sản xuất nhiều hàng hóa phục vụ đời sống và sản xuất thì nền nông nghiệp đa chức năng ngày nay còn phải nghiên cứu, triển khai các giải pháp khoa học kỹ thuật gắn liền với nền kinh tế và hiệu quả kinh tế; gắn liền với sự phát triển của xã hội và môi trường trong một tổng thể phát triển bền vững.

Nông nghiệp đa chức năng cũng phải phát triển theo hướng nông nghiệpxanh, sạch và bền vững. Điều này thể hiện cả trong quy hoạch cây con, quản lý sử dụng đất, nước, tài nguyên rừng , ứng dụng công nghệ sản xuất và chế biến sạch theo GAP, hạn chế sử dụng hoá chất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, vệ sinh môi trường trong nông nghiệp-nông thôn, tái sử dụng rác phế thải phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất các sản phẩm sạch, xây dựng nông thôn mới…

4. Bảo vệ thực vật đa chức năng

Một nền nông nghiệp đa chức năng tất yếu kéo theo sự phát triển của các chuyên ngành kỹ thuật nông nghiệp như bảo vệ thực vật theo hướng đa chức năng. Trước đây tồn tại nhiều năm quan niệm về nhiệm vụ của bảo vệ thực vật đơn thuần là “phát hiện và diệt trừ sâu bệnh” góp phần hạn chế tổn thất do sâu bệnh gây nên, còn tác động của hoạt động bảo vệ thực vật đến các biện pháp canh tác khác đến hệ sinh thái, đến môi trường và sức khỏe cộng đồng cũng như hiệu quả kinh tế của các biện pháp bảo vệ thực vật rất ít được quan tâm, cả về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn, nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất. Hệ lụy của quan điểm này là những tồn tại, tiêu cực của hoạt động bảo vệ thực vật đặc biệt là biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường, hệ sinh thái nông nghiệp, sự bột phát dịch hại, an toàn thực phẩm, sức khỏe cộng đồng và hiệu quả kinh tế của bản thân bảo vệ thực vật cũng như tác động xấu đến sự phát triển bền vững.

Ngày nay và trong tương lai, bảo vệ thực vật nhất thiết phải được thực hiện và phát triển theo hướng đa chức năng trong cả lý thuyết lẫn thực hành, trong nghiên cứu, đào tạo, áp dụng các biện pháp phòng trừ dịch bệnh.

Khái niệm hiện đại “bảo vệ thực vật đa chức năng” thể hiện trước hết ở các mặt sau đây:

Thứ nhất, đó là sự gắn kết, hòa nhập ngày càng nhiều giữa các biện pháp bảo vệ thực vật cổ điển với các biện pháp của các chuyên ngành canh tác khác, đặc biệt là giống - phân bón - thời vụ. Nhiều giải pháp kỹ thuật canh tác đã trở thành biện pháp bảo vệ thực vật: như sử dụng giống kháng sâu bệnh, áp dụng thời vụ gieo cấy để né tránh sâu rầy, ứng dụng công nghệ cây trồng biến đổi gen để kháng sau hại và thuốc trừ cỏ, bón phân cân đối và các chế phẩm sinh học hữu cơ đề phòng bệnh hại…

Thứ hai, đó là bảo vệ thực vật phải quan tâm đến bảo vệ môi trường, bất cứ biện pháp bảo vệ thực vật nào không chỉ có hiệu quả diệt trừ sâu bệnh mà phải đảm bảo thân thiện với môi trường, không được gây ô nhiễm, tàn phá hệ sinh thái nguồn nước, đất, biến đổi khí hậu. Điều này đặc biệt quan trọng trong quản lý sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

Thứ ba, người ta quan tâm ngày càng nhiều đến hiệu quả kinh tế của bảo vệ thực vật, không phòng trừ dịch bệnh bằng mọi giá, phòng trừ dịch bệnh theo dự tính dự báo, khi mật độ sâu bệnh vượt ngưỡng kinh tế.

Thứ tư, đó là các giải pháp bảo vệ thực vật phải quan tâm đến yếu tố xã hội, là lựa chọn mô hình tổ chức hệ thống chuyên ngành bảo vệ thực vật, là sự đào tạo kỹ thuật cho đông đảo hộ nông dân, là hỗ trợ nông dân nhất là nông dân nghèo khi có dịch hại bùng phát, là cân bằng lợi ích giữa các công ty kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật với lợi ích nhà nông, là bảo vệ thực vật phải góp phần đảm bảo an toàn thực phẩm và sức khỏe cho người tiêu dùng và cả cộng đồng.

Thứ năm, đó là việc xây dựng và tổ chức thực hiện công tác bảo vệ thực vật ngày càng gắn kết, ứng dụng các thành tựu khoa học của nhiều ngành khoa học kỹ thuật khác như tin học, toán học, công nghệ sinh học, hóa học, kinh tế, thông tin - truyền thông, sinh thái học v.v.. nhằm nâng cao hiệu quả tổng hợp của công tác bảo vệ thực vật. Trên thực tế nghiên cứu và thực tiễn thực hiện công tác bảo vệ thực vật ở thế giới và nước ta đã khẳng định tính chất, khái niệm đa chức năng của bảo vệ thực vật:

Đó là công nghệ quản lý tổng hợp dịch hại IPM, là tiến bộ kỹ thuật 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, là công nghệ sinh thái trong bảo vệ thực vật, là việc nghiên cứu và ứng dụng các bộ giống kháng sâu bẹnh kể cả giống biến đổi gen, là việc xuất hiện ngày càng nhiều hơn bộ thuốc bảo vệ thực vật sinh học thân thiện môi trường, là việc quản lý chặt chẽ vệ sinh an toàn thực phẩm của ngành bảo vệ thực vật.

Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) - Phải là chiến lược kỹ thuật bền vững của ngành bảo vệ thực vật đa chức năng trong phát triển tăng trưởng xanh của nền kinh tế xanh.

Tư duy bảo vệ thực vật đa chức năng cũng đòi hỏi chúng ta phải có những thay đổi trong cả nghiên cứu khoa học, xây dựng công nghệ, đào tạo huấn luyện, thông tin tuyên truyền, xây dựng tổ chức, hội nhập quốc tế và tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ thực vật trong sản xuất.

bảo vệ thực vật đa chức năng phải luôn luôn gắn với các mục tiêu phòng trừ dịch hại, hiệu quả kinh tế, yếu tố xã hội, bảo vệ môi trường, đảm bảo an toàn thực phẩm, sức khỏe cộng đồng và sự phát triển bền vững.Việc chuyển đổi Mô hình tổ chức Chi cục bvtv sang  Chi cục Trồng trọt- bảo vệ thực vật cũng phù hợp với xu hướng đó.

bảo vệ thực vật đa chức năng đòi hỏi những phương thức, công cụ quản lý hoạt động này ngày càng hiện đại, đa tác dụng. Đó là lý do ra đời có tính tất yếu và cấp thiết của mô hình Chi cục bảo vệ thực vật điện tử.

5. Chi cục bảo vệ thực vật điện tử

Phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu của thế giới, Chính phủ ta đã và đang rất quan tâm đến việc xây dựng mô hình Chính phủ điện tử và Chính quyền điện tử ở các cấp các ngành, một công cụ hiện đại, một tiện ích quan trọng và hữu hiệu trong quản lý mọi lĩnh vực của đất nước.

Chính phủ đã ra nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15/4/2015 phê duyệt Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 1/7/2015 của Bộ chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Nghị quyết nêu nhiều mục tiêu, nhiệm vụ tổng thể, các giải pháp để phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi hoạt động của nhà nước và nền kinh tế -xã hội quốc gia. Trong đó:

- Ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi, thiết thực, có hiệu quả cao.

- Đẩy mạnh triển khai Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 - 2015. Xây dựng và triển khai Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020.

- Xây dựng có hiệu quả Chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ cao và trong nhiều lĩnh vực, gắn kết chặt chẽ với triển khai Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông. Tổ chức nhân rộng mô hình tiêu biểu Chính quyền điện tử. Tăng cường đánh giá, đôn đốc triển khai công tác ứng dụng công nghệ thông tin.

- Tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Xây dựng quy định việc trao đổi văn bản điện tử trên môi trường mạng trong hoạt động của cơ quan nhà nước.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các ngành, các lĩnh vực nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của cơ quan nhà nước, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là các ngành kinh tế, kỹ thuật, các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, giao thông, xây dựng, điện, thuế, hải quan, tư pháp...

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá cao công cuộc hiện đại hóa công vụ trong công tác quản lý. Ngày 12 tháng 03 năm 2013, Bộ đã ban hành Quyết định số 484/QĐ-BNN-VP về việc phê duyệt lộ trình cung cấp dịch vụ công trực tuyến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn 2013-2015, trong đó có đề cập đến một số công vụ về bảo vệ thực vật .

Cục Bảo vệ thực vật cũng nhấn mạnh nhu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính và hiện đại hóa công vụ bảo vệ thực vật.

Trong khi đó, hiện nay việc ứng dụng công nghệ tin học trong ngành bảo vệ thực vật, đặc biệt ở các Chi cục bảo vệ thực vật còn hạn chế, chủ yếu trong lĩnh vực hành chính-văn thư-tài vụ. Số chi cục có Trang Website riêng chỉ dưới 10 đơn vị, quản lý, nội dung và ứng dụng rất hạn chế, ít thông tin, thiếu cập nhật, chưa có sự kết nối hữu hiệu trong ngành. Thiết nghĩ trong điều kiện đó, việc xây dựng mô hình Chi cục bảo vệ thực vật điện tử là cần thiết và khả thi. Hội bảo vệ thực vật Việt nam, mà nòng cốt là công ty tư vấn Hóa Nông-Đơn vị thành viên của Hội - đang triển khai đề án nghiên cứu xây dựng mô hình này mà khởi đầu là thiết kế trang website của Chi cục bảo vệ thực vật với những nội dung và tiện ích cần thiết và xây dựng, ứng dụng phần mềm quản lý thuốc bảo vệ thực vật trực tuyến phục vụ các hoạt động quản lý, sử dụng và sản xuất kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật nói riêng và bảo vệ thực vật nói chung.

Mô hình Chi cục bảo vệ thực vật điện tử sẽ góp phần quan trọng hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức bảo vệ thực vật địa phương và toàn ngành bảo vệ thực vật.

Vì vậy việc ra đời và hoạt động của mô hình Chi cục bảo vệ thực vật điện tử sẽ đáp ứng yêu cầu chung của nhà nước, của ngành bảo vệ thực vật, của các địa phương và bản thân hoạt động của Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh, thành phố                                                                                                      Cơ cấu và nội dung chủ yếu của Chi cục bảo vệ thực vật điện tử                                                                                                   1. Xây dựng trang mạng - website của Chi cục bảo vệ thực vật trong kết nối mạng với toàn hệ thống bảo vệ thực vật (Cục bảo vệ thực vật, các Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh, thành phố, các cơ quan đơn vị có liên quan trong tỉnh, các doanh nghiệp bảo vệ thực vật...)

2. Xây dựng thư viện điện tử về bảo vệ thực vật (văn bản pháp luật pháp quy, quy trình kỹ thuật, sâu bệnh cỏ dại, sưu tập ảnh, từ điển bảo vệ thực vật) nằm trong website Chi cục.

3. Ứng dụng phần mềm về quản lý Tổ chức - Hành chính - Tài vụ, quản lý và thông tin nội bộ...

4. Xây dựng và ứng dụng các phần mềm chuyên môn: Phần mềm dự tính dự báo dịch hại, phần mềm khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật và phần mềm quản lý tra cứu thuốc bảo vệ thực vật.

5. Quảng bá kỹ thuật và sản phẩm bảo vệ thực vật đến sản xuất và cộng đồng.

Trên đây là một số quan điểm mới với tư duy chiến lược hiện đại và nội hàm của Chiến lược phát triển bền vững, Chiến lược tăng trưởng xanh và tác động chi phối của nõ đến tư duy và hành động của một nền nông nghiệp đa chức năng, một bảo vệ thực vật đa chức năng theo hướng hiện đại và bền vững.

                                                                       Tháng 5 năm 2015

                                                                      Trương Quốc Tùng

                                                     Phó chủ Tịch Hội KHKT-BVTV Việt nam

                                              Phó Viện trưởng Viện KHCN và PTNT-Đông Nam Á

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp