Biến rác phế thải nông lâm nghiệp thành tài nguyên

Về chúng tôi

T2, 08/10/2015 - 11:09

















ĐỀ  XUẤT KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

DỰ ÁN

Biến rác phế thải nông lâm nghiệp thành tài nguyên để tái chế thành năng lượng sạch, sản phẩm sạch phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống và vệ sinh môi trường (thực hiện thử nghiệm ở 1 tỉnh đồng bằng trung du)

I. MỤC TIÊU

- Sử dụng tái tạo các rác phế thải, phụ phẩm nông nghiệp đang có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường thành các sản phẩm sạch phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống và vệ sinh môi trường thông qua ứng dụng công nghệ sạch, chủ yếu công nghệ sinh học.

- Góp phần đảm bảo phát triển nông nghiệp sạch và bền vững, đảm bảo an toàn thực phẩm, xây dựng nông thôn mới và vệ sinh môi trường nông nghiệp nông thôn.

- Góp phần vào quá trình tái cơ cấu nông nghiệp - nông thôn, tạo thêm nghề mới, thu nhập và việc làm cho nông thôn, xây dựng nông thôn mới.

- Thực hiện chủ trương phát triển làng nghề, công nghiệp nông thôn theo hướng ứng dụng công nghệ sạch cho sản phẩm sạch, phát triển doanh nghiệp nông thôn. Góp phần thực hiện mục tiêu “li nông bất ly hương”.

- Thực hiện liên kết hiệu quả giữa khoa học-nông dân-doanh nghiệp-nhà nước.

II. TÍNH CẤP THIẾT VÀ KHẢ THI CỦA DỰ ÁN

1. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, vấn đề ô nhiễm môi trường đang là vấn nạn trong lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn nước ta. Lượng rác thải cần xử lý rất lớn, số liệu năm 2006 là 83.761.539 tấn trong đó chất thải chăn nuôi chiếm 87,26%, rác thải sinh hoạt 11,87%. Theo tính toán của các chuyên gia nông nghiệp và môi trường, ở thời điểm năm 2011-2012 tổng lượng rác thải trong nông nghiệp-nông thôn khoảng 140-150 triệu tấn/ năm trong đó khoảng 70-80% tương ứng 110-120 triệu tấn là của chăn nuôi. Ngoài ra hàng năm sản xuất nông lâm nghiệp còn tạo nên một khối lượng rất lớn phụ phẩm với khoảng 30 triệu tấn rơm rạ, 10-15 triệu tấn cám và trấu, hàng triệu tấn cám cưa, nhiều thân, cành cây trồng. Những rác phế thải, phụ phẩm này nếu không được xử lý chúng sẽ là rác hại, nhưng trên 70% số đó có thể sẽ thành tài nguyên cho sản xuát và đời sống nếu được tái chế  sử dụng.

 2. Việc ô nhiễm rác phế thải thải, nước thải với môi trường ngày càng bức xúc hơn. Sự ô nhiễm môi trường dẫn đến những hậu quả tác hại trước mắt và lâu dài, đến việc ô nhiễm nguồn nước, không khí, đất đai, ảnh hưởng đến phát triển bền vững của tự nhiên, của nông nghiệp, đến sức khỏe cộng đồng, đến phát sinh các dịch bệnh và biến đổi khí hậu toàn cầu. Mà rác phế thải của chăn nuôi đang là yếu tố hàng đầu và phổ biến gây ô nhiễm môi trường nông nghiệp-nông thôn hiện nay.

Người ta đã, đang và tiếp tục nghiên cứu, sử dụng nhiều biện pháp để xử lý ô nhiễm môi trường song cho đến nay biện pháp hóa học vẫn chiếm ưu thế mặc dù bản thân nó cũng có thể lại đem đến sự tái ô nhiễm. Trong điều kiện đó người ta đang quan tâm nhiều đến khả năng ứng dụng công nghệ sinh học để xử lý môi trường và tái tạo rác phế thải thành những sản phẩm sạch, vừa hiệu quả lại vừa an toàn.

3. Hãy khảo sát thực tế này ở 1 tỉnh có quy mô dân số, diện tích, sản xuất nông nghiệp trung bình ở vùng đồng bằng trung du miền bắc là Vĩnh phúc ta thấy:

Với số dân khoảng 1 triệu người, với 12 vạn hộ nông nghiệp, có khoảng 100 xã, diện tích trồng trọt hàng năm khoảng 100.000ha, đầu gia súc khoảng 500-600 ngàn, số lượng gia cầm 5-6 triệu con, số trang trại chăn nuôi 600 (số liệu năm 2011-2012), số liệu các rác phế thải và phụ phẩm nông nghiệp hàng năm ước tính:

- Rơm rạ và phế thải thực vật: 80 vạn tấn 

- Rác thải sinh hoạt: 25-30 vạn tấn

- Phế thải chăn nuôi: 0,7-0,8 triệu tấn

- Trấu: 10 vạn tấn

- Cám: 5 vạn tấn    

- Cám cưa, cành, gỗ vụn: 2 vạn tấn                                                                                         

4. Số lượng rác, phế thải, phụ phẩm nông lâm nghiệp khổng lồ này ngày càng tăng và cùng với nó là sự hiểm nguy của vấn nạn ô nhiễm môi trường đã nhãn tiền đối với không khí, đất, nước, sức khỏe cộng đồng và sự phát triển bền vững. Để xử lý khối lượng rất lớn rác phế thải và phụ phẩm nông lâm nghiệp này vừa có sản phẩm mới, vừa bảo đảm vệ sinh môi trường cần có 2 điều kiện, đó là ứng dụng công nghệ sạch chủ yếu là công nghệ sinh học và xây dựng mô hình sản xuất công nghiệp nông thôn.

Mô hình này phải cho ra các sản phẩm sạch và trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống ở địa phương và thị trường mở rộng, sử dụng lao động nông thôn tại chỗ, sử dụng tiết kiệm quỹ đất và phù hợp điều kiện sản xuất, khả năng đầu tư và tiêu thụ sản phẩm.

 5. Mô hình Làng nghề sinh học (thực chất là Cụm Xí nghiệp sinh học nông thôn) sẽ đáp ứng các yêu cầu trên. Nó vừa sử dụng tái tạo các rác phế thải và phụ phẩm nông nghiệp sẵn có ở địa phương. Nó vừa cho ra các sản phẩm sạch với công nghệ sạch và có nhu cầu tiêu thụ. Nó vừa góp phần quan trọng thực hiện việc xử lý môi trường nông thôn. Hơn nữa, mô hình này góp phần vào việc thực hiện một số mục tiêu quan trọng của xây dựng nông thôn mới. Về phát triển ngành nghề, tăng thu nhập, tạo việc làm tại chỗ, tái cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo vệ môi trường.

III. NỘI DUNG CÔNG NGHỆ VÀ CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ CHỦ YẾU ĐỂ TÁI CHẾ RÁC PHẾ THẢI NÔNG LÂM NGHIỆP (trong 1 tỉnh trung bình của đồng bằng Sông Hồng)

1. Sản xuất và sử dụng chế phẩm vi sinh TB-E2 để xử lý làm sạch môi trường và chế biến phân bón vi sinh

- Mô hình sản xuất: Xí nghiệp sản xuất chế phẩm vi sinh công xuất 200 tấn/năm.

- Công nghệ: Sử dụng công nghệ EM-EMRO - Nhật bản điều chế chế phẩm xử lý vệ sinh môi trường là chế phẩm TB-E2.

- Nguyên liệu: Hoạt chất sinh học gốc EM1, rỉ đường, nước và một số phụ gia sinh học.

- Nhu cầu tiêu thụ: tại địa phương và trong huyện.

- Nhu cầu cho 1 tỉnh: xử lý môi trường sinh hoạt và chăn nuôi của 10 vạn hộ nông dân, diện tích xử lý bình quân 50m2/hộ/5 lần 1 tháng. Tổng nhu cầu cả tỉnh trong năm là 1.000 tấn chế phẩm TB-E2. 

Để xử lý môi trường công nghiệp tập trung của 600 trang trại chăn nuôi x 1000m2 diện tích chuồng trại cần 600.000 lít TB-E2 1% = 6000 lít TB-E2 x 10 lần/tháng = 60 tấn/tháng  =  720 tấn trong năm.

Thêm nhu cầu khác cần 1000 tấn TB-E2 xử lý môi trường chăn nuôi và đặc thù khác.

Nhu cầu TB-E2 để chế biến khoảng 100.000 tấn phân bón vi sinh từ 100.000 tấn phế thải chăn nuôi (của 600 trang trại chăn nuôi  tập trung) và 50.000 tấn rơm rạ, 10.000 tấn cám là 2000 tấn  TB-E2.

Như vậy nhu cầu TB-E2 cho xử lý môi trường các hộ nông thôn của 1 tỉnh và xử lý môi trường trang trại chăn nuôi tập trung của tỉnh kể cả sản xuất 100.000 tấn phân bón vi sinh từ phế thải chăn nuôi của các trang trại là 4000 tấn. Để đáp ứng nhu cầu này cần xây dựng 40 xí nghiệp sản xuất TB-E2 với công xuất 100 tấn/xí nghiệp/năm

- Giá thành 1 lít TB-E2 là 4000 VNĐ, giá bán 6000 VNĐ, lợi  nhuận  2000 VNĐ/1 lít. Tổng doanh thu là 16.000.000.000 VNĐ, Tổng lợi nhuận 8.000.000.000 VNĐ/năm

2. Sản xuất phân bón vi sinh từ rơm rạ và phế thải chăn nuôi                                        

- Sử dụng 10% rơm rạ, 100.000 tấn phế thải chăn nuôi của các trang trại chăn nuôi tập trung, 5000-10.000 tấn cám và 2.000 tấn TB-E2 để sản xuất 10 vạn tấn phân bón vi sinh, sử dụng cho  2 vạn ha trồng trọt/năm x 5 tấn/ha = 10 vạn tấn.

- Xây dựng được 50 xí nghiệp sản xuất phân bón vi sinh công suất 2000 tấm/năm. Trung bình 2 xã xây dựng 1 xí nghiệp. 

- Giá thành khoảng 1500 VNĐ/kg, giá bản 2000VNĐ/kg, lợi  nhuận 500VNĐ/kg. Tổng mức doanh thu 20.000.000.000VNĐ. Lợi nhuận 5.000.000.000VNĐ                                

3. Sản xuất than sinh học sạch từ cám cưa và phế thải, phụ phẩm tre gỗ

- Sử dụng 70-80% cám cưa, gỗ vụn (1,5 vạn tấn) đủ sản xuất được 5000 tấn than sinh học, và xây dựng 10 xí nghiệp sản xuất than sinh học công suất 500 tấn/năm. Đảm bảo tiêu thụ hết nội địa và xuất khẩu.

- Giá thành 6000VNĐ/kg, giá bán 10.000VNĐ/kg, lợi nhuận 4000VNĐ/kg. Tổng doanh thu 50.000.000.000VNĐ. Tổng lợi nhuận 20.000.000.000VNĐ                                           

4. Sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu

- Sử dụng 10% rơm rạ (5 vạn tấn) để trồng nấm cho sản lượng 1,0 vạn tấn nấm tươi. Có thể xây dựng 200 trang trại nấm công suất 50 tấn /năm (nuôi 3-5 loại nấm chính). Trung bình 1 xã 2 trang trại nấm.

- Giá thành trung bình 10.000VNĐ/kg. Giá bán 20.000VNĐ/kg nấm tươi. Tổng doanh thu 200 tỷ VNĐ, tổng lợi nhuận 100 tỷ VNĐ.

5. Ngoài ra tùy điều kiện sản xuất và thị trường tiêu thụ có thể bố trí tại làng nghề sinh học, 1 trang trại sản xuất giống mới chất lượng cao, trang trại sản xuất rau sạch VietGap, trang trại chăn nuôi sinh học VietGap…

IV.  LÀNG NGHỀ SINH HỌC - MÔ HÌNH TỔ CHỨC SẢN XUẤT THÍCH HỢP ĐỂ TÁI CHẾ RÁC PHẾ THẢI NÔNG LÂM NGHIỆP Ở 1 TỈNH

1. Làng nghề sinh học, thực chất là 1 cum Xí nghiệp sinh học nông thôn, bao gồm các xí nghiệp có những mục tiêu giống nhau là tái chế các rác phế thải thành các năng lượng sạch, sản phẩm sạch thân thiện môi trường có nhu cầu tiêu thụ, phục vụ sản xuất nông nghiệp, vệ sinh môi trường, đời sống và cả xuất khẩu.

2. Các xí nghiệp trong làng nghề sinh học có những tính tương đồng về quy mô, công nghệ: chủ yếu quy mô nhỏ theo kiểu xí nghiệp công nghiệp nông thôn, sử dụng công nghệ sạch như công nghệ vi sinh EM của Nhật có cải tiến, công nghệ sản xuất than sinh học của Trung quốc, công nghệ sinh học sản xuất nấm ăn sạch của Việt nam.

3. Các xí nghiệp của làng nghề sinh học đều sử dụng nguyên liệu địa phương hoặc trong vùng đều là rác phế thải phụ phẩm nông lâm nghiệp như rác thải, phế thải chăn nuôi, rơm rạ, cám cưa, trấu, rỉ đường..

4. Các xí nghiệp của làng nghề sinh học đều sử dụng không nhiều lao động và là lao động nông thôn tại chỗ góp phần tạo thêm sản phẩm việc làm và thu nhập cho nông dân, nông thôn.

5. Làng nghề sinh học góp phần tái cơ cấu nông nghiệp và nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới xanh, sạch, đẹp, hiện đại.

V. CƠ CẤU SẢN XUẤT VÀ ĐẦU TƯ CỦA 1 LÀNG NGHỀ SINH HỌC QUY MÔ XÃ HAY LIÊN XÃ

1. Xí nghiệp sản xuất chế phẩm sinh học và phân bón vi sinh

- Công xuất 100 tấn chế phẩm sinh học và 2000 tấn phân bón vi sinh

- Diện tích sản xuất: 500-600 m2

- Đầu tư kinh phí: 450-500 triệu đồng

- Lao động: 10-15 người

- Lợi nhuận/năm: 1000- 1200 triệu đồng

2. Xí nghiệp sản xuất than sinh học

- Công xuất: 500-1000 tấn/năm

- Diện tích sản suất: 1000m2

- Đầu tư kinh phí: 3000-3200 triệu đồng

- Lao động: 7-12 người

- Lợi nhuận/năm: 1500-2000 triệu đồng

3. Trang trại sản xuất nấm ăn sạch

Công xuất: 30-50 tấn nấm tươi/năm và 100-150 tấn phân hữu cơ

Diện tích sản xuất: 1000-1200m2, trong đó 500-700m2 lán trồng nấm

Đầu tư kinh phí: 200-300 triệu đồng

Lao động: 5-7 người

Lợi nhuận/năm: 200-250 triệu đồng

Ngoài ra có thể bố trí trong làng nghề sinh học một số xí nghiệp, trang trại sản xuất nông nghiệp khác cũng ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ sạch như sản xuất giống lúa chất lượng cao, sản xuất rau sạch VietGap.

4.Trang trại sản xuất giống (lúa, ngô, đậu tương) chất lượng cao

- Công xuất: 30-50 tấn giống

- Diện tích sản xuất: 3-5 ha

- Kinh phí: 200- 350 triệu đồng

- Lợi nhuận/năm: 150-200 triệu đồng

5.Trang trại sản xuất rau sạch VietGap ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao

- Sản lượng: 300 tấn

- Diện tích sản xuất: 3 ha

- Đầu tư kinh phí: 1000-1200 triệu đồng

- Lợi nhuận/năm: 600-700 triệu đồng

Ngoài ra, tùy điều kiện và khả năng từng nơi có thể bổ sung các đơn vị sản xuất khác như  trang trại chăn nuôi sinh học-an toàn, trang trại trồng hoa-cây cảnh, xí nghiệp điều chế các chế phẩm nano bạc…

VI. TỔNG HỢP CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ HẠCH TOÁN KINH TẾ CỦA 1 LÀNG NGHỀ SINH HỌC

- Số lượng xí nghiệp: 5. Thực hiện một quy hoạch khu làng nghề sinh học theo tiêu chuẩn kiến trúc xanh nông thôn

- Diện tích quy hoạch sản xuất: 62.000-65.000 m2

- Sản lượng: 100 tấn chế phẩm sinh học, 2000 tấn phân bón vi sinh, 1000 tấn than sinh học, 30-50 tấn nấm ăn, 300 tấn rau sạch, 30-50 tấn giống chất lượng cao

- Nhu cầu nhân lực thường xuyên: 35-40 lao động, trong đó 8-10 cán bộ kỹ thuật

- Nhu cầu về vốn đầu tư ban đầu: 4500-5000 triệu đồng

- Tổng doanh thu/năm: Khoảng 12-14 tỷ đồng

Dự kiến lợi nhuận/năm: 3500-4000 triệu đồng

VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Tỉnh cần xây dựng 1 đề án/dự án tổng thể và giao cho một cơ quan, đơn vị nào (tốt nhất là Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn) tổ chức triển khai với 1 số chính sách ưu đãi về đất, thuế, tín dụng, ứng dụng khoa học công nghệ mới ...

2. Chủ đầu tư: Là các doanh nghiệp với sự hỗ trợ về chính sách, đất đai, quy hoạch, tín dụng … của địa phương tỉnh, thành phố. Tranh thủ tiếp cận các quỹ đầu tư đổi mới - ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông - khuyến công, xây dựng nông thôn mới, môi trường… ở Trung ương và địa phương.

3.Cơ quan tư vấn, quy hoạch và chuyển giao công nghệ: Tổ chức tư vấn - chuyển giao công nghệ, tổ chức khuyến nông Trung ương và tỉnh, thành phố.Viện Khoa học công nghệ và phát triển nông thôn-Đông Nam Á sẵn sàng đảm nhiệm nhiệm vụ này.

4. Bước đầu có thể xây dựng một số mô hình thử nghiệm ở 3 vùng Bắc, Trung, Nam (đối với Trung ương), ở cấp xã hay huyện (đối với địa phương tỉnh, huyện).

5. Khi xây dựng làng nghề sinh học có thể làm từng bước, lúc đầu lựa chọn 2-3 xí nghiệp, sau đó có thể bổ sung thêm 1-3 xí nghiệp, trang trại khác… tùy năng lực quản lý và khả năng đầu tư.

6.Thời gian triển khai Dự án: 2015-2016.

Viện Khoa học công nghệ và phát triển nông thôn-Đông Nam Á rất mong nhận được sự giúp đỡ, hợp tác nhiệt tình của các Bộ, ngành Trung ương, các nhà khoa học, các chương trình-quỹ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, các địa phương và doanh nghiệp tiềm nang trong việc xây dựng và triển khai ý tưởng dự án này trên tinh thần hợp tác trung thực, hiệu quả, bền vững, cùng chia sẻ trách nhiệm và lơi ích, vì sự phát triển của nông nghiệp- nông thôn và môi trường bền vững.

VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Liên hệ hợp tác

Ông Trương Quốc Tùng, Phó Viện trưởng, Chủ nhiệm Dự án

Điện thoại: 0913514753

Email: tungtq43@yahoo.com.vn

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp