Bọ nhảy hại rau cải

T7, 04/14/2012 - 21:02

Bọ nhảy hiện nay đang là mối lo âu hàng đầu cho các vườn rau, đặc biệt là rau cải. Bọ nhảy là loài sâu hại khó trị dứt điểm, lại phát tán nhanh. Nếu không phòng chống kịp thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng rau.

(Bài viết này mang tính chất tham khảo. Kiến thức sâu sẽ được tìm thấy trong những tác phẩm chuyên khảo, quy trình do cơ quan quản lý ban hành.)


Nội dung

1. Mô tả họ Cải

2. Sâu bệnh hại họ Cải

3. Mô tả bọ nhảy

4. Đặc điểm gây hại

5. Các biện pháp phòng trừ tổng hợp

6. Phụ lục

7. Tài liệu tham khảo 

Mô tả về họ Cải

Họ Cải danh pháp khoa học Brassicaceae, còn gọi là họ Thập tự Cruciferae, là một họ thực vật có hoa. Một số loài trong họ Cải có tầm quan trọng kinh tế lớn, cung cấp nhiều loại rau về mùa đông trên khắp thế giới. Chúng bao gồm cải bắp, cải bông xanh, súp lơ, cải brussels, cải xoăn, cải làn, cải củ Thụy Điển, cải xoăn nước mặn, cải củ, cải thìasu hào, mù tạc, cải ngựa, cải canh, mù tạc Nhật, xà láchcải xoong. Họ cải chứa khoảng 338-350 chi và khoảng 3.700 loài. Họ này bao gồm các loài cây thân thảo với chu kỳ sống là một, hai hay lâu năm. Các thành viên trong họ chủ yếu có các lá mọc so le (ít khi mọc đối). Phần lớn các loài chia sẻ một bộ các hợp chất glucosinolat có mùi hăng đặc trưng thường gắn liền với các loại rau cải. Trong khi một số thành viên trong họ có các hạt với hàm lượng axít erucic lớn, làm cho chúng trở thành không an toàn khi ăn nhiều, nhưng tất cả các thành viên của họ này đều là ăn được. 

Sâu bệnh hại rau cải

Các loại sâu bệnh gây hại chính trên rau cải là: bọ cánh cứng, bọ nhảy, đốm vòng, lở cổ rễ, nghẹt rễ, rệp muội, sâu xanh da láng, thối nhũn,... 

Mô tả bọ nhảy

                                  

 

Bọ nhảy P.striolata thuộc họ Ánh kim Chrysomelidae, bộ Cánh cứng Coleoptera, là loài côn trùng thuộc nhóm biến thái hoàn toàn, quá trình sinh trưởng phát triển trải qua 4 pha phát dục khác nhau đó là: trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành. Giữa sâu non và trưởng thành có tập tính sinh sống hoàn toàn khác nhau. Trưởng thành có tập tính sinh sống và gây hại ở phần trên mặt đất thì sâu non lại chủ yếu sinh sống và gây hại ở phần dưới mặt đất của cây.

Trứng: mới đẻ có màu trắng vàng, bề mặt  nhẵn bóng, khi sắp nở trứng chuyển màu nâu vàng hình bầu dục. Trứng có chiều dài lớn nhất là 0,43 mm, nhỏ nhất 0,26 mm, trung bình 0.3637 ± 0.0225 mm. Chiều rộng lớn nhất là 0.3 mm, nhỏ nhất 0.2 mm và trung bình 0.2643 ± 0.06731 mm.

Sâu non: có 3 tuổi, hình ống mập, mới nở sâu có màu trắng trong, sau đó màu trắng sữa, ít hoạt động thân co ngắn lại. Đầu hình bán cầu, hại má màu nâu. Trên cơ thể có các u lông nhỏ ngắn và thưa. Sâu non từ khi nở đến khi hóa nhộng hình dạng ít thay đổi chỉ có màu sắc và kích thước thay đổi. Phần ngực có 3 đôi chân ngực phát triển vì vậy sâu non hoạt động nhanh nhẹn, chân có 3 đốt, đốt cuối phát triển sắc nhọn hình lưỡi câu.

Trên các đốt bụng có các u lồi, ở đốt cuối cùng phía trức hậu môn có hình oval nhỏ. Trước khi lột xác các tuổi sâu non co mình lột xác, đặc biệt trong giai đoạn sâu non tuổi 3 ngừng ăn, co ngắn thì hóa nhộng.

Nhộng: nhộng trần mầu nâu, mầm cánh, mầm chân rõ rệt. Sau khi hóa nhộng thì nhộng có màu trắng đục sau đó chuyển dần sang màu vàng nâu cho đến khi hóa trưởng thành. Phần đầu, bụng, lưng và ngực có nhiều lông cứng ngắn và thưa. Đốt cuối cùng của nhộng có hai gai lồi. Chiều dài khoảng 2.89 mm, chiều rộng khoảng 1.35 mm, trung bình 2.0413 ± 0.1644 mm.

Trưởng thành: cơ thể hình bầu dục có màu đen bóng. Đặc điểm để phân biệt giữa loài bọ nhảy sọc cong vỏ lạc với các loài bọ nhảy khác là có vân sọc hình vỏ củ lạc màu vàng nhạt nằm ở giữa cánh chạy dọc theo chiều dài cơ thể. Trưởng thành có 3 đôi chân ngực rất phát triển đặc biệt là đốt đùi, chân sau to khỏe vì vậy chúng có thể bay nhảy dễ dàng. Đôi râu đầu của bọ nhảy rất phát triển, có 11 đốt, 3 đốt gốc màu nhạt, 8 đốt còn lại có màu đen bóng, màu sắc của 3 đốt gốc cũng là đặc điểm để phân biệt giữa con đực và con cái. Trong khi con cái đốt râu đầu thứ 2 và thứ 3 có màu vàng sáng, ở con đực đốt râu thứ 4 và thứ 5 to hơn các đốt khác. Con cái có kích thước lơn hơn con đực.

Thông qua các lần điều tra mật độ trưởng thành trên đồng ruộng chúng tôi thấy trong những ngày nắng nóng và những giờ nóng trong ngày thì trưởng thành thường tìm nơi ẩn náu ở mặt sau của lá, những bộ phận gần sát mặt đât. Chúng thường hoạt động mạnh nhất vào buổi sáng sớm khi trên mặt lá đã khô sương từ 7giờ-8giờ30 và trong buổi chiều mát trưởng thành cũng thường ra gây hại các bộ phận trên mặt đất. Đặc biệt trong những ngày mưa trưởng thành thường ít hoạt động tìm nơi ẩn nấp ở phía dưới gốc cây, có thể dựa vào đặc điểm này mà người trồng rau khi phun thuốc trừ trưởng thành bọ nhảy thường tiến hành tưới ngập rãnh để tăng hiệu quả của biện pháp trừ bọ nhảy.

Đặc điểm gây hại

Bọ nhảy thường gây hại nhiều trong các tháng mùa khô làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và phẩm chất rau, thậm chí có thể gây mất trắng nếu không phòng trừ kịp thời. Trưởng thành ăn lá non thành những lỗ tròn nhỏ khắp mặt lá. Ngoài ra chúng còn hoạt động nhảy đạp lung tung làm rau dập nát, nhất là trên rau cải có lá mỏng. Sâu non ăn các rễ phụ, đục vào gốc và rễ chính làm cây sinh trưởng kém, nếu mật độ sâu cao có thể làm cây héo và chết nhất là khi cây đang còn nhỏ.



Biện pháp phòng trừ tổng hợp

Việc phòng trừ bọ nhảy thường gặp nhiều khó khăn, vì chỉ sau khi phun thuốc một thời gian ngắn, bọ nhảy lại phát triển trở lại bởi những lý do chính sau đây:
Thứ nhất, bọ nhảy trưởng thành có tính chu chuyển mạnh nên khi phun thuốc trừ ở ruộng này, bọ nhảy có thể di chuyển sang các ruộng lân cận, hết mùi thuốc bọ nhảy tiếp tục trở lại phá tiếp.

Thứ hai, là việc phun thuốc chỉ có tác dụng với bọ nhảy trưởng thành chứ không có tác dụng với sâu non và nhộng ở dưới đất nên có thể sau khi phun, bọ nhảy tiếp tục xuất hiện và phá trở lại. 
Vì thế, muốn hạn chế tác hại của bọ nhảy và đảm bảo rau được an toàn cần lưu ý áp dụng các biện pháp sau phòng trừ tổng hợp.

Biện pháp canh tác

Trước khi trồng rau cải, đất cần được chuẩn bị kỹ, dọn sạch tàn dư vụ trước; phơi thật khô đất tối thiểu từ 10-15 ngày để diệt sâu non và nhộng còn trong đất. Nếu có điều kiện nên bón vôi để tạo môi trường bất lợi cho bọ nhảy.
Thời vụ gieo trồng và thu hoạch rau cải trong từng khu vực không nên kéo dài, vì sẽ tạo điều kiện cho bọ nhảy chu chuyển gây hại liên tục.

Trồng luân canh rau cải với các cây khác họ hoặc luân canh với cây lúa nước.

Bố trí một diện tích nhỏ để gieo sớm trước vụ những giống có xu tính mạnh với bọ nhảy như cải mơ Hoàng Mai làm bẫy dẫn dụ để tiến hành tiêu diệt chúng trước khi vào vụ chính.

Cần kiểm tra ruộng rau cải thường xuyên (nhất là khi cây cải còn non), hoặc vào những lúc các ruộng xung quanh đang thu hoạch, để phát hiện và phun xịt thuốc diệt trừ bọ nhảy kịp thời.

Biện pháp hóa học

Khi dùng thuốc hoá học phải tuân theo nguyên tắc 4 đúng. Các hoạt chất và thuốc thương phẩm tương ứng có thể tìm thấy trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt nam. Trước khi sử dụng xem kỹ hướng dẫn trên nhãn thuốc. 

Phụ lục

Tóm tắt tính năng tác dụng, cách sử dụng một số loại thuốc trừ bọ nhảy hại rau cải phổ biến 

Hoạt chất Azadirachtin

- Nhóm Botanical trừ côn trùng

- Nhóm độc IV (WHO)

- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc, gây ngán và xua đuổi.

- Thuốc làm ngăn cản quá trình lột xác của côn trùng theo các tác động: làm giảm hay ức chế hoàn toàn khả năng sinh sản, làm ung trứng, rút ngắn thời gian sống của sâu trưởng thành, sâu non không biến thái, tác động tới sự lột xác giữa các tuổi sâu và làm cho sâu bị tê liệt.

- Lượng dùng: dùng 2-4g ai/ha, pha trong 500 - 700 lít nước/ha.

- Phun thuốc vào buổi sáng hoặc chiều mát

- Phun thuốc khi sâu xuất hiện

- Ngừng phu thuốc trước khi thu hoạch 3 ngày

Hoạt chất Chlorantraniliprole

- Nhóm Diamide trừ côn trùng, nhóm Pyrazole trừ côn trùng

- Nhóm độc IV (WHO)

- Lượng dùng: dùng 15-25g ai/ha, pha trong 320 - 600 lít nước/ha

- Phun thuốc vào buổi sáng hoặc chiều mát

- Phun thuốc khi sâu xuất hiện

- Ngừng phu thuốc trước khi thu hoạch 7 ngày 

Hoạt chất Citrus oil

- Lượng dùng: dùng 30 g ai/ha, pha trong 320 - 400 lít nước/ha

- Phun thuốc vào buổi sáng hoặc chiều mát

- Phun thuốc khi sâu xuất hiện 

Hoạt chất Matrine

- Nhóm Sinh học trừ côn trùng

- Nhóm độc: còn thiếu cần bổ sung (WHO)

- Tác động và cơ chế: còn thiếu cần bổ sung

- Lượng dùng: dùng 1-3 g ai/ha, pha trong 600 - 800 lít nước/ha

- Phun thuốc vào buổi sáng hoặc chiều mát

- Phun thuốc khi sâu xuất hiện

- Ngừng phu thuốc trước khi thu hoạch 3 ngày

Hoạt chất Rotenone

- Nhóm Sinh học trừ côn trùng

- Nhóm độc II (WHO)

- Thuốc có tác động tiếp xúc và vị độc, nội hấp yếu.

- Thuốc ức chế sự chuyển hoá trong hô hấp, gây rối hoạt động sự chuyển hoá điện tử giữa NADH-dehydrogenaza và coenzyn Q, làm giảm nghiêm trọng sự tiêu thụ oxy, ức chế mạnh hô hấp trong ty thể.

- Lượng dùng: dùng 20-25 g ai/ha, pha trong 700 - 700 lít nước/ha

- Phun thuốc vào buổi sáng hoặc chiều mát

- Phun thuốc khi sâu xuất hiện

- Ngừng phu thuốc trước khi thu hoạch 3 ngày


Biên soạn:

Phạm Văn Hội, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Khoa Nông học, Bộ môn bảo vệ thực vật, sinh viên khóa 54a.

Phạm Thị Thùy Linh, Công ty Tư vấn Hóa Nông.

 

Tài liệu tham khảo

Tếng Việt

1. Mai Thị Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi (1996), Rau và trồng rau, Giáo trình cao học nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp.

2. Nguyễn Văn Cảm, Hà Minh Trung và cộng tác viên (1980), Kết quả điều tra sâu bệnh hại cây trông ở các tỉnh phía Nam (1977 – 1979), Nxb nông nghiệp, tr. 34 – 51.

3. Vũ Thị Hiển ( 2002), Đặc điểm sinh vật  học và khả năng phòng trừ bọ nhảy hại rau cải ngọt vùng Gia Lâm – Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.

4. Nguyễn Thị Hoa và công sự (2002), Tìm hiểu quy luật phát sinh gây hại của sâu bệnh hại tren rau vụ xuân hè, các giống dưa leo và xây dựng quy trình phòng trừ tổng hợp, Báo cáo khoa học, Chi cục Bảo vệ thực vật  thành phố Hà Nội.

5. Phạm Bình Quyền (1994), Sinh thái học côn trùng, Nxb Giáo trình Giáo dục Hà Nội.

6. Phạm Thị Nhất (1993), Sâu bệnh hại cây thực phẩm và biện pháp phòng trừ, Nxb nông nghiệp.

7. Hồ Khắc Tín và cộng sự (1980), “Sâu hại rau họ hoa thập tự”, Giáo trình côn trùng nông nghiệp”. Nxb nông nghiệp, tr. 106 – 125.

8. Phạm Chí Thành (1976), “Rau sạch và một số vấn đề cần quan tâm nghiên cứu ứng dụng”, Tạp chí hoạt động khoa học, tr 27 – 28.

9. Viện Bảo vệ thực vật (1976), Kết quả điều tra côn trùng (1967 – 1968), Nxb nông nghiệp.

10. Viện Bảo vệ thực vật (1997), Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật, Nxb nông nghiệp, tr.6 -13.

 

Tiếng Anh

1. APPPC (1987), “ Incect pets of economic significance affecting major crops of 1th  countries in Aisa and Pacific refion”, Technical Document No. 135 Bangkok, ThaiLand: Regional FAO Office forAsia and Pacific (RAPA).

2. Brugess L. (1981), “Crucifer – feeding flea beetles (Coleoptera Chrysomelidae) occurring in the Province of Saskatchewan, Canada”. Coleopterissts Bullein, pp 307 -309.

3. Butt T.M., Ibrahim L., Ball B.V and Clark S.J. (1994), “Pathogencity of the entomogenous fungi Metarhizium anisopiae and Beauveria bassiana against crucifer pests and the honey bee”, Biocontrol – Science – Technology, pp. 207 – 214.

4. Chen C.C., Ho W.H. and Lee C.L. (1990), “Studies on the ecology and control of Phyllotreta striolata: Morphology, rearing method, behavior and host plants”.  Bulletin of Taichung District Agricultural Improvenment Station, pp. 37 – 48.

5. Dosdal L.M., Dolinski M.G., Cowle N.T. and Conway P.M. (1998), “ The effect of tillage regime, row spacing and seeding rate on feeding dmage by flea beetles, Phyllotreta sp. in Canola central Alberta, Canada”, Crop – protection ( United Kingdom), pp. 127 – 224.

6. Eddy C.O (1938), “ Entomological Progress”, Louisana Africultual experiment station, USA, Bulletin.

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp