Đạo ôn hại lúa

T6, 04/20/2012 - 16:48

Đạo ôn là một trong những bệnh phổ biến và gây hại có ý nghĩa kinh tế nhất ở các nước trồng lúa trên thế giới. Hiện nay bệnh đạo ôn hại lúa đã phát sinh phá hoại nghiêm trọng ở nhiều  nơi ở Miền Bắc nước ta làm giảm năng suất đáng kể.

(Bài viết này mang tính chất tham khảo. Kiến thức sâu sẽ được tìm thấy trong những tác phẩm chuyên khảo, quy trình do cơ quan quản lý ban hành.)


Nội dung

1. Mô tả cây lúa

2. Sâu bệnh hại lúa

3. Mô tả bệnh đạo ôn

4. Nguyên nhân gây bệnh

5. Đặc điểm phát sinh, phát triển của bệnh

6. Các biện pháp phòng trừ tổng hợp

7. Phụ lục

8. Tài liệu tham khảo

Mô tả cây lúa

Lúa  thuộc cây một lá mầm. Lúa là các loài thực vật sống một năm, có thể cao tới 1-1,8 m, đôi khi cao hơn, với các lá mỏng, hẹp bản (2-2,5 cm) và dài 50-100 cm. Các hoa nhỏ tự thụ phấn mọc thành các cụm hoa phân nhánh cong hay rủ xuống, dài 30-50 cm. Hạt là loại quả thóc (hạt nhỏ, cứng của các loại cây ngũ cốc) dài 5-12 mm và dày 2-3 mm. Và là cây lương thực quan trọng cho con người.

Sâu bệnh hại lúa

Các loại sâu bệnh hại lúa chủ yếu là: đạo ôn, khô vằn, sâu đục thân, cuốn lá, rầy nâu, bọ xít, lem lép hạt,….

Mô tả bệnh đạo ôn

Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia oryzae gây ra, là một trong vài loại dịch hại nguy hiểm đối với cây lúa ở nước ta và nhiều nước khác trong khu vực. Nấm bệnh có thể tấn công trên lá, trên cổ bông (cổ gié) hoặc trên hạt.

Trên lá: bệnh hại chủ yếu ở giai đoạn mạ - đẻ nhánh, cổ bông và hạt. Lúc đầu vết bệnh chỉ nhỏ như đầu mũi kim, mầu xám xanh giống như bị nước sôi, sau chuyển sang mầu nâu, rồi lan rộng dần ra thành hình thoi, xung quanh mầu nâu đậm, giữa mầu xám trắng. Nếu nặng, nhiều vết liên kết lại với nhau tạo thành mảng lớn, có thể làm lá bị khô cháy, cây lúa lụi tàn, gây thất thu năng suất nghiêm trọng.

Trên cổ bông (cổ gié): nấm bệnh tấn công trên cổ bông (cổ gié) làm cản trở việc vận chuyển chất dinh dưỡng từ cây lúa lên nuôi bông, nuôi hạt, hạt lúa sẽ bị lép lửng. Nếu bệnh tấn công sớm có thể làm cho hạt lúa bị lép hoàn toàn. Vết bị bệnh lúc đầu có mầu xám xanh, sau chuyển dần sang mầu nâu, nâu đậm. Nếu ẩm độ không khí cao, chỗ vết bệnh sẽ mọc một lớp nấm mốc mầu xám xanh, dễ bị gẫy, làm ruộng lúa trở nên xơ xác.

Trên hạt: vết bệnh có hình tròn, viền nâu, tâm mầu xám trắng, đường kính khoảng 1 – 2 mm, làm hạt lúa bị lem lép, Nếu bị bệnh sớm, hạt lúa có thể bị lép hoàn toàn 

Nguyên nhân gây bệnh

                                   

Bệnh do nấm Pyricularia oryzae gây nên thuộc họ Moniliales, lớp nấm bất toàn.

Cành bào tử phân sinh: đa bào, không phân nhánh, đầu cành thon và hơi gấp khúc.

Bào tử phân sinh: không màu, hình nụ sen thường có 2 vách ngăn.

Nấm đạo ôn sinh trường thích hợp ở nhiệt độ 25-280C và độ ẩm không khí 93% trở lên. Bào tử này mầm tốt nhất ở nhiệt độ: 24-280C và có giọt nước.

Nguồn bệnh: trong tàn dư cây trồng, hạt bị bệnh và cỏ dại.

Đặc điểm phát sinh, phát triển của bệnh

Thời tiết khí hậu: nấm ưa nhiệt độ tương đối thấp, ẩm độ không khí bão hòa và trời âm u

ở Miền Bắc, trà lúa Mùa muộn trỗ-chín, hoặc vụ lúa Đông Xuân vào giai đoạn con gái- đứng cái-làm đòng là những cao điểm của bệnh trong năm.

Đất đai, phân bón: chân ruộng trũng, khó thoát nước bệnh nặng. Bón phân đạm quá nhiều, quá muộn hoặc vào lúc nhiệt độ không khí thấp và cây còn non đều làm bệnh nặng. Bón kali trên nền đạm cao sẽ làm bệnh tăng.

Giống lúa: giống có tỷ lệ SiO2/ N cao, chứa nhiều polyphenon, hình thành nhiều phytoalexin đẻ nhánh tập trung, ống rơm dày, lá cứng là những giống chống chịu bệnh tốt

Các biện pháp phòng trừ tổng hợp

Biện pháp giống

Không gieo trồng giống nhiễm bệnh, không lấy lúa ở những ruộng đã bị bệnh đạo ôn ở vụ trước để làm giống cho vụ sau.

Chọn giống có gen kháng bệnh đạo ôn.

Chọn giống sạch bệnh: xử lý hạt giống bằng nước nóng 540C trong 10 phút hoặc xử lý bằng thuốc hoá học.

Dự tính dự báo

Điều tra bệnh, phân tích các yếu tố: nguồn bệnh, thời tiết, sinh trưởng của cây, đất đai, phân bón, cơ cấu giống lúa.

Biện pháp canh tác

Dọn sạch tàn dư rơm rạ.

Không gieo thẳng quá dầy, mỗi ha chỉ gieo khoảng 100 - 120kg, nếu dùng máy chỉ cần 70 - 80kg.

Không bón qúa nhiều phân đạm, nhất là thời kỳ cuối đẻ nhánh và trước sau trỗ. Phải bón cân đối giữa đạm, lân và kali. Nên bón theo bảng so mầu lá lúa để cây lúa luôn khỏe mạnh, không bị tốt lốp, có sức chống đỡ với bệnh.

Kiểm tra ruộng lúa thường xuyên để kịp thời phát hiện và có biện pháp phòng trị bệnh kịp thời. Nếu phát hiện có bệnh, mà thời tiết đang phù hợp cho bệnh (trời lạnh, đêm và sáng sớm có nhiều sương mù, hoặc trời có mưa nhỏ xen kẽ, ban ngày trời âm u ít nắng…) thì phải ngưng bón đạm, không để ruộng bị khô nước và tiến hành phun xịt thuốc kịp thời.  

Biện pháp hóa học

Khi dùng thuốc hóa học theo nguyên tắc 4 đúng và phun khi phát hiện ổ bệnh trên đồng ruộng. Các hoạt chất và thuốc thương phẩm tương ứng có thể tìm thấy trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt nam. Trước khi sử dụng xem kỹ hướng dẫn trên nhãn thuốc.

Phụ lục

Tóm tắt tính năng tác dụng, cách sử dụng một số loại thuốc trừ bệnh đạo ôn hại lúa phổ biến

Hoạt chất Carbendazim

- Nhóm Carbamate trừ nấm

- Nhóm độc III (WHO)

- Thuốc trừ nấm nội hấp có tác động bảo vệ và diệt trừ nấm. Thuốc hấp phụ qua rễ, mô lá, và chuyển dịch hướng ngọn

- Thuốc có tác động ức chế sự phát triển ống mầm, ngăn cản sự hình thành giác bám và sự phát triển của sợi nấm. Thuốc ức chế tổng hợp chất beta-tubulin

- Lượng dùng: dùng 500 g ai/ha, pha trong 400 - 600 lít nước/ha

- Phun ướt đều cả hai mặt lá

- Phun thuốc khi tỷ lệ bệnh 5%

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 14 ngày

Hoạt chất Edifenphos

- Nhóm Lân hữu cơ trừ nấm

- Nhóm độc Ib (WHO)

- Thuốc trừ nấm nội hấp có tác dụng bảo vệ và diệt trừ nấm.

- Lượng dùng: thuốc dạng 30%EC dùng từ 1.0 - 1.2 lít/ha, pha trong 320 - 480 lít/ha

- Phun thuốc vào buổi sáng hoặc chiều mát

- Phun thuốc khi bệnh xuất hiện

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 21 ngày

Hoạt chất Isoprothiolane 

- Nhóm Dithiolane trừ nấm

- Nhóm độc III (WHO)

- Thuốc trừ nấm nội hấp có tác dụng bảo vệ và diệt trừ nấm. Thuốc xâm nhập nhanh qua lá và rễ; vận chuyển hướng ngọn và hướng gốc.

- Thuốc kìm hãm sự xâm nhâp và sự tăng trưởng của sợi nấm bằng cách kìm hãm sự tạo thành giác bám hay sự tiết men cellulase.

- Lượng dùng: thuôc dạng 40%EC dùng từ 1.0 - 1.2 l/ha, pha trong 320 - 400 lít nước/ha.

- Phun thuốc vào buổi sáng hoặc chiều mát

- Phun thuốc khi bệnh xuất hiện

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 14 ngày

Hoạt chất Tricyclazole

- Nhóm thuốc chưa phân nhóm trừ nấm

- Nhóm độc II (WHO)

- Thuốc trừ nấm nội hấp, thuốc xâm nhập nhanh qua rễ và vận chuyển trong cây.

- Thuốc kìm hãm sinh tổng hợp melanin.

- Lượng dùng: thuốc dạng 75%WP dùng từ 0.2 - 0.3 kg/ha, pha trong 400 - 600 lít nước/ha.

- Phun thuốc vào buổi sáng hoặc chiều mát

- Phun thuốc khi sâu non xuất hiện

- Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 21 ngày

 

Biên soạn

Nguyễn thị Phú, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Khoa Nông học, Bộ môn bảo vệ thực vật, sinh viên khóa 54A

 

Tài liệu tham khảo

1. Giáo trình “Bệnh cây đại cương”. Chủ biên: GS.TS. Vũ Triệu Mân, Nxb Nông Nghiệp

2. Giáo trình “Bệnh cây chuyên khoa” Chủ biên: GS.TS. Vũ Triệu Mân, Nxb Nông Nghiệp

3. Giáo trình “ Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật” Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Trần Oánh

4.  www.spchcmc.vn/vn/TTNN/ZWOTKR032438/YYEBFG103530

5. agriviet.com/nd/251-benh-dao-on---rice-blast-disease

6. www.vaas.org.vn/Images/caylua/02/index.htm

7. Từ điển sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam, nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 2005

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp