Tổng hợp bảo vệ cây ở Việt Nam

T4, 05/20/2015 - 15:29

I. Tổng hợp bảo vệ cây (IPM) là hướng phát triển của công tác bảo vệ thực vật ở Việt Nam

Thực hiện chủ trương phát triển nền nông nghiệp bền vững của Đảng từ thực tiễn tiến hành công tác bảo vệ thực vật trong những năm qua, đã cho thấy thực hiện tổng hợp bảo vệ cây là con đường phát triển đúng đắn. Khái niệm tổng hợp bảo vệ cây được bắt đầu nói đến ở Việt Nam từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX. Cho đến nay tinh thần tổng hợp bảo vệ cây đã dần được phổ biến trong đội ngũ nhân lực làm công tác bảo vệ thực vật và một phần trong nhân dân ở một số địa phương.

Trong những năm vừa qua, cách hiểu về nội dung tổng hợp bảo vệ cây có đôi chút khác nhau, tuy vậy, hầu như đã thống nhất ở nội dung sau: a/ Mục tiêu chủ yếu của tổng hợp bảo vệ cây là ngăn ngừa các tác hại của sâu bệnh, bảo đảm năng suất cây trồng và chất lượng nông sản không bị giảm sút. Trong mục tiêu này không đặt nặng việc tiêu diệt triệt để, toàn bộ các loài gây hại; b/ Sử dụng một cách tổng hợp nhiều biện pháp bảo vệ thực vật với nhận thức là các nhóm biện pháp (giống chống chịu, kỹ thuật canh tác, sinh học, hóa học, thủ công v.v.) đều có vai trò quan trọng ở từng trường hợp cụ thể. Trong sử dụng tổng hợp các biện pháp hỗ trợ lẫn nhau, làm tăng hiệu quả lẫn nhau; c/ Sử dụng hệ thống các biện pháp tác động lên toàn bộ hệ sinh thái đồng ruộng, vườn cây hướng vào việc quản lý các loài dịch hại, quản lý năng suất cây trồng, quản lý hoạt động của toàn bộ các hệ sinh thái để tạo ra năng suất cây trồng cao, chất lượng nông sản tốt; d/ Sử dụng tổng hợp hệ thống các biện pháp bảo vệ thực vật một cách khoa học, hợp lý, hài hòa để vừa ngăn ngừa tác hại của sâu bệnh, vừa không gây ô nhiễm môi trường, vừa không để lại dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và các nhân tố gây độc hại trong nông sản; đ/ Tổng hợp bảo vệ cây đảm bảo xử lý tổng hợp đồng bộ các mục tiêu đặt ra, tác động tổng hợp lên nhiều loài gây hại, thúc đẩy tổng hợp các quá trình tạo ra và tích lũy năng suất cây trồng, nhưng đồng thời lưu ý đến việc sáng tạo và cụ thể trong việc áp dụng các biện pháp phù hợp với tình hình diễn biến và điều kiện cụ thể nơi tiến hành các biện pháp đó.

Như vậy, tổng hợp bảo vệ cây là hướng phát triển của công tác bảo vệ thực vật trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới để góp phần vào việc xây dựng nền nông nghiệp đa chức năng, phát triển bền vững, đảm bảo quá trình tăng trưởng xanh để đất nước bước vào nền kinh tế tri thức.

II. Đặc điểm của tổng hợp bảo vệ cây ở Việt Nam

Do đặc điểm phát triển của nền sản xuất nông nghiệp cần được thúc đẩy để tăng trưởng nhanh, đáp ứng các nhu cầu của các cuộc kháng chiến toàn diện, trường kỳ, gian khổ chống 2 đế quốc lớn, ròng rã trong hơn 30 năm, lại được thực hiện trên một địa bàn, đất chật, người đông với mật độ dân số vào loại cao nhất thế giới, cho nên ý tưởng tổng hợp bảo vệ cây được bén rễ và phát triển nhanh ở Việt Nam.

Tổng hợp bảo vệ cây ở Việt Nam là nơi hội tụ, nơi kết đọng của 3 nguồn tri thức chủ yếu: 1) Cơ sở lý thuyết của tổng hợp bảo vệ cây được tiếp thu từ các nước có nền nông nghiệp phát triển, có nền kinh tế đã được công nghiệp hóa. Các cơ sở lý luận này được nảy sinh từ những xung đột môi trường, từ những hậu quả tiêu cực của nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào sử dụng các nguồn năng lượng hóa thạch, thông qua hóa học hóa, cơ khí hóa v.v. Khi đến Việt Nam, các cơ sở lý luận này được tiếp nhận nhanh chóng, mặc dù nền nông nghiệp Việt Nam chưa có cơ khí nhiều và chưa hóa học hóa ở mức cao. Mặc dù vậy, nhiều vấn đề ô nhiễm môi trường, ngộ độc thực phẩm, sức khỏe người lao động đã nảy sinh và đang được đòi hỏi giải quyết. Trước những yêu cầu này, việc tiếp nhận lý luận tổng hợp bảo vệ cây là điều có nhiều thuận lợi. 2) Các kết quả nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ bảo vệ thực vật trong những năm dưới chính quyền cách mạng đã thu được một số kết quả đáng ghi nhận. Thực tiễn tiến hành công tác bảo vệ thực vật để ngăn ngừa tác hại của nhiều loài sâu bệnh, trên nhiều loài cây trồng đã đem lại nhiều kinh nghiệm quý báu. Đặc biệt là qua các phong trào, các chiến dịch phòng trừ bệnh lúa vàng lụi, sâu đục thân lúa, sâu cắn gié lúa, bệnh rỉ sắt cà phê ở các tỉnh phía Bắc; trừ rầy nâu, trừ bệnh lùn xoắn lá ở các tỉnh phía Nam đã giúp cho đội ngũ nhân lực làm công tác bảo vệ thực vật thấy được nhiều vấn đề đang đặt ra, cần được giải quyết. Trong tình hình đó, việc tiếp thu tư tưởng tổng hộp bảo vệ cây khá dễ dàng vì anh chị em làm công tác bảo vệ thực vật tìm thấy ở đó hướng giải quyết tốt nhất cho những vấn đề đang được đặt ra. 3) Nhiều sáng tạo trong nhân dân là các địa phương làm phong phú thêm, đầy đủ hơn các giải pháp bảo vệ thực vật theo hướng tổng hợp bảo vệ cây. Phong trào 4 tăng, 1 không (tăng thâm canh, tăng thăm đồng, tăng biện pháp sinh học, tăng quản lý hoạt động bảo vệ thực vật và không lạm dụng thuốc hóa học). Ở Vĩnh Phúc 4 nguyên tắc của IPM: trồng cây khỏe, bảo vệ ký sinh thiên địch, thăm đồng ruộng thường xuyên, nông dân là chuyên gia… Phong trào 3 giảm 3 tăng (giảm phân hóa học, giảm thuốc bảo vệ thực vật, giảm lượng giống lúa gieo; tăng năng suất, tăng chất lượng, tăng hiệu quả) ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã cụ thể hóa thêm nội dung tổng hợp bảo vệ cây, làm cho tổng hợp bảo vệ cây phù hợp hơn với điều kiện và đặc thù của từng địa phương.

Ba nguồn tri thức trên đây đã gặp gỡ nhau trong thực tiễn công tác bảo vệ thực vật ở Việt Na, đan kết lại với nhau để đi vào sản xuất, mở rộng dần ra tại các địa phương và trở thành định hướng cho phát triển bảo vệ thực vật. Ba luồng tri thức này cũng làm cho tổng hợp bảo vệ cây trở nên phong phú thêm, gắn kết chặt chẽ hơn với sản xuất. Tuy nhiên, tổng hợp bảo vệ cây mới chỉ có những bước đi đầu tiên trong thực tiễn hoạt động bảo vệ thực vật ở Việt Nam. Nhiều vấn đề cả về lya luận, cả về thực tiễn, cả về công nghệ có liên quan đến tổng hợp bảo vệ cây ở Việt Nam chưa chắc được giải quyết. Vì vậy, để tổng hợp bảo vệ cây mang lại những hiệu quả thiết thực cho sản xuất, trở thành biện pháp quen thuộc và phổ biến đối với nông dân, góp phần xứng đáng vào tăng trưởng xanh của đất nước, tổng hợp bảo vệ cây đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn nữa của hoạt động bảo vệ thực vật.

III. Một số vấn đề chủ yếu cần được giải quyết để tổng hợp bảo vệ cây có nhiều đóng góp hơn cho sản xuất nông nghiệp

1) Mở rộng và phổ cập nhận thức đúng đắn về tổng hợp bảo vệ cây đi đôi với tập huấn, nâng cao trình độ của nông dân về các biện pháp tổng hợp

Cần tuyên truyền giáo dục cho nông dân từ bỏ các tập quán ỷ lại vào thuốc hóa học, phun thuốc định kỳ, phun thuốc nhiều lần trong một vụ sản xuất, khắc phục thói quen phun thuốc cho đến lúc nào thấy sâu chết thật nhiều mới an tâm. Tuyên truyền để nông dân thấy được sự cần thiết phải thăm đồng thường xuyên để kịp thời phát hiện được sâu bệnh hại khi mật độ chúng còn thấp. Tập huấn cho nông dân phát hiện được và nhận diện đúng các loại sâu bệnh gây hại chủ yếu trong vùng để thực hiện có kết quả việc điều tra phát hiện sâu bệnh. Trong đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật viên phụ trách công tác bảo vệ thực vật ở các địa phương cần trao đổi kỹ để nắm vững các yêu cầu và nội dung của tổng hợp bảo vệ cây làm cho họ thấy được ý nghĩa to lớn và nhiều mặt của công tác này để quyết tâm thực hiện trong sản xuất, không ngừng năng động sáng tạo trong việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật.

2) Nghiên cứu giải quết tốt các vấn đề kỹ thuật để đưa tổng hợp bảo vệ cây áp dụng cho nhiều loài cây trồng và mở rộng các vùng áp dụng biện pháp này trên địa bàn cả nước

Cho đến nay, tổng hợp bảo vệ cây chỉ mới triển khai áp dụng tương đối có kết quả đối với cây lúa ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng, Trung du Bắc bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Cần giải quyết tốt những vướng mắc còn tồn tại để mở rộng tổng hợp bảo vệ cây lên các địa phương miền núi, Tây Nguyên, vùng sâu, vùng xa. Ngoài cây lúa ra, để phục vụ cho nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, nền nông nghiệp đa chức năng, tổng hợp bảo vệ cây cần được sớm nghiên cứu để áp dụng cho các loại cây ăn quả là những loài cây có triển vọng phát triển ở Việt Nam cho nhu cầu trong nước và cho xuất khẩu. Tổng hợp bảo vệ cây cần sớm được nghiên cứu hoàn thiện để áp dụng cho các loại cây xuất khẩu của Việt Nam như: cà phên, cao su, chè, điều, tiêu, thanh long, dừa, vải v.v. Đối với các loại cây xuất khẩu, tổng hợp bảo vệ cây không những đảm bảo năng suất, chất lượng cho nông sản mà còn làm tăng giá trị, tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Cùng với việc đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, nông nghiệp ngày càng phát triển theo hướng đa chức năng, tổng hợp bảo vệ cây cần được sớm nghiên cứu để áp dụng cho sản xuất hoa, cây cảnh, bảo vệ các loại rừng cảnh quan, bảo vệ các hàng cây xanh đường phố, bảo vệ sản xuất nông nghiệp đô thị được tiến hành trong các thành phố lớn.

3) Thúc đẩy mạnh việc tao ra và thương mại hóa các công nghệ hướng xã hội chủ nghĩa, thị trường công nghệ chắc chắn được hình thành và hoạt động trên khắp địa bàn cả nước

Các công nghệ bảo vệ thực vật muốn đi nhanh và thâm nhập sâu rộng vào sản xuất cần chuyển thành hàng hóa, mua-bán rộng rãi trên thị trường. Các loại công nghệ bảo vệ thực vật chủ yếu như: công nghệ sản xuất giống chống chịu sâu bệnh, công nghệ bón phân, tưới nước hạn chế tác hại của sâu bệnh, công nghệ tụ tập và phát huy tác dụng của các loài thiên địch, công nghệ nhiễm bệnh và thúc đẩy sự hình thành dịch bệnh trong quần thể sâu hại v.v. Có rất nhiều công nghệ cần được rạo ra chunh quanh các phương pháp bảo vệ thực vật: giống chống chịu, kỹ thuật canh tác, sinh học, hóa học, vật lý, thủ công cần được tạo ra, chuyển thàh sản phẩm hàng hóa để được mua-bán rộng rãi trên thị trường. Mặt khác, các công ty, doanh nghiệp sản xuất, gia công thuốc bảo vệ thực vật, kể cả thuốc hóa học và thuốc sinh học, cần tìm kiếm công nghệ tiên tiến để đổi mới công nghệ sản xuất, tạo ra những sản phẩm thân thiện hơn với môi trường, ít độc hơn với con người để đưa vào sử dụng trong tổng hợp bảo vệ cây. Ở các lĩnh vực hoạt động khác của bảo vệ thực vật như dự tính, dự báo, xác định các ngưỡng kinh tế, đánh giá thiệt hại do sâu bệnh gây ra, đánh giá hiệu quả của các biện pháp bảo vệ thực vật và của tổng hợp bảo vệ cây v.v. cũng cần được nghiên cứu để tạo thành hàng hóa công nghệ.

4) Chuẩn hóa các hoạt động, xây dựng các bộ chỉ số tổng hợp bảo vệ cây

Để tổng hợp bảo vệ cây được thực hiện theo đúng tiêu chuẩn, tránh các xử lý tùy tiện, thiếu cơ sở, làm triệt tiêu kết quả của toàn bộ hệ thống, có các việc phải nghiên cứu xây dnwgj như sau: a/ Quy trình hóa các quá trình thực hiện các biện pháp bảo vệ thực vật. Cần xây dựng quy trình điều tra, phát hiện, đánh giá mức độ gây hại của sâu bệnh, quy trình xác định và hệ thống hóa các biện pháp tổng hợp bảo vệ cây, quy trình tiến hành từng loại biện pháp bảo vệ thực vật và những quy trình khác có liên quan được thực hiện từ lúc bắt đầu triển khai cho đến khi kết thúc tổng hợp bảo vệ cây. Quy trình nên đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, không nên quá rườm rà, phức tạp. Điều quan trọng là nêu rõ những việc không được làm, những giới hạn không được vượt qua, những việc nhất thiết không được bỏ qua. b/ Xây dựng bộ chỉ số tổng hợp bảo vệ cây. Bộ chỉ số bao bồm các chỉ tiêu phải thực hiện, các thông số cần đảm bảo cho mỗi loại hoạt động. Bộ chỉ số được sử dụng để kiểm tra, đánh giá tính nghiêm túc, tính chuẩn xác trong việc thực thi các biện pháp tổng hợp bảo vệ cây. Bộ chỉ số còn được sử dụng để đánh giá hiệu quả, phát hiện các các điểm yếu kém trong quá trình thực hiện giải pháp này. Bộ chỉ số bảo vệ thực vật còn được dùng để so sánh kết quả hoạt động của các đơn vị, các địa phương trong lĩnh vực này.

5) Đảm bảo sự gắn kết giữa 4 bên: nhà nông, nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nhân

Sự gắn kết này đảm bảo công bằng về quyền lợi cho cả 4 bên và đảm bảo thành công cho hoạt động bảo vệ thực vật. Chúng ta đã nói nhiều, kêu gọi nhiều về thực hiện gắn kết (có nơi còn gọi là liê kết) 4 bên trong quá trình đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất. Tuy nhiên, cho đên nay kết quả thu được còn rất khiêm tốn, sự gắn kết 4 nhà còn rất lỏng lẻo, thiếu thường xuyên, lúc được lúc không. Sở dĩ như vậy là vì cho đến nay, sự gắn kết này chỉ dựa trên cơ sở tự nguyện của mỗi bên, còn thiếu cơ chế, thiếu chính sách, thiếu pháp lý.

Sự liên kết này là yếu tố rất quan trọng, mở đường cho khoa học và công nghệ đi vào sản xuất, tạo điều kiện tốt nhất để chuyển kết quả của nghiên cứu và triển khai trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tuy nhiên, để cho sự liên kết này trở thành hiện thực, là một giải pháp góp phần thành công cho sản xuất nông nghiệp và cho bảo vệ thực vật cần có những nghiên cứu cụ thể để giải quyết các vướng mắc. Trước hết, cần có nhận thức đúng về mối liên kết này. Sự liên kết này không nhắm vào chỉ làm lợi cho một bên nào trong các bên tham gia. Mà để cho llieen kết được thành công cần đảm bảo lợi ích cho cả 4 bên một cách công bằng, công khai, minh bạch. Hiệu quả do việc liên kết mang lại cần được phân chia hợp lý tương ứng với công lao đóng gốp của mỗi bên. Nhà khoa học được hưởng phần giá trị do kiến thức khoa học đầu tư để tạo ra công nghệ. Nhà kinh doanh hưởng phần giá trị do việc quảng bá công nghệ, đưa công nghệ ra thị trường. Nhà quản lý hưởng phần giá trị do các hoạt động quản lý, đảm bảo lưu thông, bảo vệ các đặc tính có ích của công nghệ. Người nông dân hưởng phần giá trị gia tăng do việc áp dụng công nghệ mang lại. Việc phân chia và đảm bảo lợi ích của 4 bên trong liên kết cần được thực hiện thành cơ chế cụ thể. Cơ chế này cần được cả 4 bên nhất trí đồng thuận, và cơ quan có thẩm quyền ban hành. Ngoài cơ chế liên kết, cơ quan chính quyền cần nghiên cứu ban hành 1 số chính sách, chính sách khuyến khích tạo ra công nghệ, chính sách khuyến khích lưu thông hàng hóa công nghệ, chính sách khuyến khích nông dân tích cực áp dụng các công nghệ bảo vệ cây v.v. Ngoài ra các cơ quan quản lý nhà nước cần ban hành 1 số văn bản có tính chất pháp lý như các quy định về việc ký kết hợp đồng, và xác định trách nhiệm khi gặp trắc trở, và chế tài xử phạt khi có bên không hoàn thành trách nhiệm.

Như vậy, sự gắn kết 4 bên không chỉ là một ý tưởng tốt mà thành. Để sự gắn kết này trở thành hiện thực và mang lại kết quả trong thực tế sản xuất cần được nghiên cứu giải quyết cụ thể và cần có sự tham gia tích cực, có hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước.

Tổng hợp bảo vệ cây ở Việt Nam đã đi được một chặng đường và đang hứa hẹn nhiều thành công trên chặng đường sắp tới. Để đi đến được và tổng hợp bảo vệ cây, công tác bảo vệ thực vật ở Việt Nam đã từng đi qua nhiều chặng trên con đường phát triển với nhiều tìm tòi và thử nghiệm. Bước đầu là việc tìm biện pháp tìm ra và áp dụng các biện pháp để ngăn chặn tác hại của từng loài sâu bệnh riêng lẻ. Vào những năm 50 của thế kỷ XX bảo vệ thực vật Việt Nam đối phó và ngăn chặn tác hại của sâu đục thân lúa, sâu keo, xử lý giống bằng nước ấm 3 sôi + 2 lạnh, tổ chức việc điều tra phát hiện sâu bệnh rộng rãi ở các địa phương. Cuối những năm 70, sang các năm 80, bảo vệ thực vật Việt Nam tạp trung sức vào xây dựng các quy trình phòng trừ sâu bệnh cho từng loại cây trồng, chủ yếu là cho lúa, ngô. Trong những năm 90, bảo vệ thực vật Việt Nam tiếp thu các biện pháp tổng hợp quản lý dịch hại (IPM) cùng với tổng hợp quản lý năng suất cây trồng (ICM). Từ thực tiễn sản xuất, bảo vệ thực vật Việt Nam ngày càng thấy rõ làm muốn đảm bảo được mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững với các nội dung: đảm bảo năng suất và chất lượng nông sản cao, không gây ra ô nhiễm môi trường, đảm bảo tăng thu nhập, nâng cao đời sống của nông dân cần thực hiện một cách khoa học với đầy đủ căn cứ lý thuyết và thực tiễn việc quản lý tổng hợp hệ sinh thái đồng ruộng, vườn cây. Trên nền tiến hành quản lý tổng hợp hệ sinh thái đồng ruộng, tổng hợp bỏa vệ cây được xây dựng và triển khai.

 

GS.TS Đường Hồng Dật

Chủ tịch danh dự Hội BVTV Việt Nam 

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp