Phác thảo chiến lược phát triển bảo vệ thực vật Việt Nam đến 2020

T2, 04/20/2015 - 11:04

Bảo vệ thực vật là một bộ phận xung yếu của sản xuất nông lâm nghiệp. Nền nông nghiệp càng phát triển, càng đi sâu vào thâm canh, chuyên canh, sản xuất hàng hóa, vai trò của bảo vệ thực vật càng trở thành bộ phận nhạy cảm, nhiều biến động và có tác động sâu sắc đến thành công của sản xuất nông lâm nghiệp.

Cho đến nay, các hoạt động bảo vệ thực vật ở nước ta đã đạt được những thành công đáng ghi nhận: góp phần tích cực vào việc dập tắt các trận dịch sâu bệnh, ngăn ngừa lây lan, nhiều loài sâu bệnh nguy hiểm, xây dựng đội ngũ ngày càng trưởng thành cùng phát triển hòa nhịp với sự phát triển chung của nông lâm nghiệp nước ta.

Tuy nhiên, nhìn chung công tác bảo vệ thực vật về cơ bản còn ở trong tình trạng bị động đối phó. Chiến lược công tác bảo vệ thực vật chưa được xây dựng. Hoạt động bảo vệ thực vật chưa đáp ứng được những yêu cầu của phát triển sản xuất nông lâm nghiệp trong giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

Chiến lược phát triển bảo vệ thực vật được xây dựng nhằm cụ thể hóa đường lối phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã được đề ra trong nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 9, trên lĩnh vực các hoạt động bảo vệ thực vật.

I. Tình hình sản xuất nông nghiệp và vai trò của công tác bảo vệ thực vật

1/  Bối cảnh sản xuất nông nghiệp thế giới

- Nông nghiệp thế giới đang tập trung giải quyết các yêu cầu

+ Đảm bảo an ninh lương thực cho toàn xã hội trong tình hình có những khu vực thiếu lương thực trầm trọng (Châu Phi, Trung Đông).

+ Tạo ra và sản xuất những loại thực phẩm giài dinh dưỡng, những sản phẩm nông nghiệp sạch.

+ Tạo ra những khu nghỉ dưỡng trong lành đáp ứng các yêu cầu nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng, phục hồi sức khỏe của cư dân đô thị đang chiếm phần lớn dân số thế giới.

+ Đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội bền vững đáp ứng đầy đủ hơn các nhu cầu ngày càng tăng của thế hệ hôm nay và chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho sự phát triển của các thế hệ trong tương lai.

- Các xu hướng phát triển của nông nghiệp thế giới

+ Ứng dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học - công nghệ đặc biệt là các thành tựu của công nghệ sinh học để tăng năng suất kinh tế các hệ sinh thái.

+ Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước, thể hiện rõ nhất ở các nước đang phát triển, là giảm tỷ trọng GDP của lĩnh vực nông nghiệp đi đôi với tỷ trọng GDP của công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, giá trị tuyệt đối của nông nghiệp vẫn tăng đều đặn qua các năm và đặc biệt vai trò của nông nghiệp trong việc ổn định xã hội, ổn định chính trị, trật tự an ninh ngày càng tăng cao.

+ Xu hướng tự do hóa thương mại toàn cầu về sản phẩm nông nghiệp. Các tổ chức WTO, APEC, AFTA là những tổ chức hoạt động thúc đẩy thương mại toàn cầu và khu vực.

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã tác động đến chuyển dịch thương mại theo hướng: tăng tỷ trọng xuất khẩu các loại hàng hóa dịch vụ (xuất khẩu vô hình), giảm tỷ trọng các sản phẩm sơ cấp, các nông sản thô, nông sản nguyên liệu, tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến, nông sản có chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tự do hóa thương mại toàn cầu có tác động đến chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ở từng nước trên cơ sở phân công lao động sản xuất, nhằm phát huy lợi thế và tài nguyên của mỗi nước.

+ Xu hướng chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia ngày càng tăng và đang hình thành thị trường khoa học công nghệ bên cạnh thị trường hàng hóa, thị trường lao động, thị trường vốn.

Việc chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ ngày càng mang tính chất hàng hóa.

2/ Bối cảnh sản xuất nông nghiệp trong nước

+ Mục tiêu tổng quát và lâu dài của phát triển nông nghiệp nước ta là: xây dựng một nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn có sơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp, có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững theo hướng nền nông nghiệp sinh thái, thực hiện đa canh, đa dạng hóa sản phẩm kết hợp nông nghiệp với lâm nghiệp và công nghiệp chế biến để tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, nhanh chóng nâng cao thu nhập và đời sống của dân cư nông thôn, đưa nông thôn nước ta tiến lên văn minh hiện đại.

+ Những đặc điểm chủ yếu của nông nghiệp Việt Nam: Nông lâm nghiệp là một hệ thống đồng bộ với nhiều mối liên hệ qua lại nhiều chiều bao gồm các lĩnh vực kinh tế, tự nhiên, kỹ thuật, xã hội.

- Về kinh tế: nông nghiệp nước ta chiếm vị trí quan trọng trong tổng GDP của cả nước. Năm 2000 nông lâm ngư nghiệp chiếm 24% tổng GDP. Riêng trong khu vực nông thôn, nông lâm ngư nghiệp chiếm đến 68% tổng GDP nông thôn.

Nông nghiệp nước ta bao gồm nhiều thành phần kinh tế: nhà nước, cá thể, tập thể, tư nhân, hỗn hợp, liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay kinh tế hộ gia đình (cá thể) đang chiếm phần lớn, nhưng kinh tế trang trại (tư nhân) đang phát triển với tốc độ nhanh. Đến năm 2001 cả nước đã có hàng nghìn trang trại nông lâm nghiệp hoạt động khắp địa bàn cả nước.

Nông nghiệp nước ta đang chuyển nhanh từ sản xuất tự túc sang sản xuất hàng hóa, từ đơn canh sang đa canh, từ một nền nông nghiệp theo hướng hóa học hóa sang một nền nông nghiệp sinh thái hữu cơ phát triển bền vững.

- Về kỹ thuật: nông nghiệp nước ta đang từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng cho một nền kinh tế sản xuất hàng hóa, đa canh, chuyên canh. Quá trình cứng hóa kênh mương đang được triển khai mạnh mẽ ở nhiều tỉnh, giao thông nông thôn phát triển, hệ thống sản xuất và nhân giống đang được xây dựng. Tuy nhiên, cho đến nay hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của nông nghiệp nước ta chỉ mới đang trên con đường hình thành, cho nên còn thiếu đồng bộ và ở một số vùng chưa thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu. Đặc biệt các cơ sở vật chất kỹ thuật cho các khâu sau khi thu hoạch (bảo quản, chế biến, lưu thông) còn quá thiếu và thô sơ.

Các biện pháp kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi chúng ta có nhiều tiến bộ. Trong một số lĩnh vực như trồng lúa, chăn nuôi lợn chúng ta đã đặt được trình độ không thua kém các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhưng trong nhiều lĩnh vực và ở một số địa bàn chúng ta còn chưa thoát khỏi tình trạng quảnh canh, lạc hậu, nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ chưa được áp dụng rộng rãi.

- Về các khía cạnh xã hội: nông nghiệp nước ta đang ở trong tình trạng sản xuất nhỏ, lẻ, manh mún với kinh tế hộ gia đình nông dân là chủ yếu.

Nông thôn nước ta đang có nhiều chuyển biến tích cực. Điện đã được đưa đến hầu hết các xã thôn trong cả nước. Cuộc sống văn hóa đang trở thành phong trào xây dựng ở hầu khắp các nơi. Chương trình nước sạch nông thôn đã thu được kết quả khả quan ở nhiều nơi. Tuy nhiên, nhiều vùng nông thôn nước ta đang ở trong tình trạng kém phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu thốn, vệ sinh nước sạch có nhiều khó khăn. Đáng chú ý là ở một số vùng trồng rau, trồng cây công nghiệp chuyên canh, trồng lúa thâm canh đã có những trường hợp bị ô nhiễm môi trường do các chất hóa học bảo vệ thực vật và các loại phân hóa học.

+ Nông nghiệp nước ta là một nền nông nghiệp nhiệt đới gió mùa, ven biển. Tính chất này của nông nghiệp nước ta mang theo các đặc điểm cần được chú ý đầy đủ, nhất là với chiến lược bảo vệ thực vật sau đây:

- Có nhiều hệ thống cơ cấu cây trồng, hệ thống cơ cấu giống, nhiều chế độ luân canh, xen canh, gối vụ, nhiều mùa (vụ, nhiều trà sản xuất, nhiều hệ thống canh tác).

- Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên nhiều kiểu lập địa, nhiều địa hình, nhiều vĩ độ, nhiều độ cao so với mặt biển.

- Nhiều biến động xảy ra đối với các điều kiện khí hậu thời tiết kéo theo những biến động trong các hệ sinh thái nông nghiệp, đặc biệt là những biến động trong các quần thể các loài gây hại.

- Các hiện tượng xảy ra trong các hệ sinh thái nông nghiệp thường diễn biến nhanh, những thay đổi về số lượng, về cơ cấu thành phần cá thể, về các chiều hướng phát triển thường xảy ra nhanh chóng.

- Đất nước ta hẹp bề ngang, trải dài qua nhiều vĩ độ, có bờ biển dài cho nên những thay đổi trong các hệ sinh thái nông nghiệp ngoài việc chịu tác động của các yếu tố biển trong các hệ sinh thái còn chịu tác động lớn của nhiều tác động từ bên ngoài vào.

- Các hệ sinh thái nông nghiệp nhiệt đới nước ta thường có khả năng tự hồi phục, khả năng bù đắp những đảo lộn lớn. Đây là yếu tố cần được chú ý vận dụng vào trong chiến lược bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, các hệ sinh thái nông nghiệp nước ta cũng thường suy sụp nhanh khi các yếu tố tự khôi phục không được huy động.

3/ Vai trò của công tác bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp

a/ Vai trò của bảo vệ thực vật trong nông nghiệp các nước trên thế giới

Tùy theo trình độ phát triển, tùy thuộc vào các điều kiện tự nhiên và xã hội ở các nước mà vai trò của bảo vệ thực vật có khác nhau. Đánh giá của các nhà khoa học cũng như các nhà kinh tế về vai trò của bảo vệ thực vật cũng có khác nhau. Trên những nét chung nhất có thể đưa ra các nhận xét và đánh giá sau đây:

- Bảo vệ thực vật có vai trò to lớn trong sự phát triển của sản xuất nông nghiệp trong thời gian vừa qua, hiện nay và cả trong tương lai một số nhà kinh tế cho rằng, hàng năm sâu bệnh và cỏ dại gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp đến trên 30% sản lượng, thậm chí có năm đến trên 50%. Nhiều nhà khoa học cho rằng sâu bệnh là yếu tố hàng đầu làm giảm năng suất và sản lượng cây trồng.

- Sâu bệnh, cỏ dại không những làm giảm năng suất và sản lượng mà còn có ảnh hưởng lớn đến chất lượng, giá trị thương phẩm của nông sản. Về điều này trước đây những người làm nông nghiệp chưa ý thức được đầy đủ ý nghĩa và tác hại của nó. Cùng với sự phát triển của xã hội, ảnh hưởng của sâu, bệnh, cỏ dại lên chất lượng, phẩm chất nông sản ngày càng được nhìn nhận rõ ràng và đầy đủ hơn. Nhất là khi chất lượng cuộc sống của con người được nâng cao lên. Khi nhu cầu về chất lượng dinh dưỡng được đặt lên hàng đầu so với khối lượng.

- Bảo vệ thực vật và ô nhiễm môi trường có liên quan chặt chẽ với nhau. Trong thời gian dài, cùng với quá trình hóa học hóa nông nghiệp, lượng thuốc hóa học bảo vệ thực vật được sử dụng tăng lên nhanh chóng và đạt đến những con số lớn về khối lượng thuốc cũng như các chủng loại thuốc được sử dụng. Cùng với quá trình này, ô nhiễm môi trường, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản tăng lên. Tình trạng ngộ độc, ảnh hưởng đến sức khỏe, bệnh tật của nhân dân tăng lên. Cần nói rằng không phải bản thân công tác bảo vệ thực vật làm cho ô nhiễm môi trường tăng lên, mà chính vì sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật thiếu kiểm soát, không đúng kỹ thuật, thiếu hiểu biết là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường.

Cùng với việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật với liều lượng nhiều, sử dụng thường xuyên liên tục trong thời gian dài, với nồng độ tăng dần lên đã dẫn đến hiện tượng nhờn thuốc, chống chịu với thuốc của nhiều loài gây hại tăng lên. Trong sinh quần của nhiều hệ sinh thái xuất hiện nhiều dạng, kiểu sinh vật không mong muốn.

- Khoa học bảo vệ thực vật bên cạnh việc giải quyết trực tiếp những vấn đề ngăn ngừa tác hại của sâu bệnh, còn có những đóng góp vào giải quyết một số vấn đề lý luận nông nghiệp, nông sinh học. Trên hướng này, khoa học bảo vệ thực vật đã có đóng góp quan trọng về miễn dịch học thực vật, về cân bằng sinh thái, về chu chuyển các chất trong tự nhiên, về hiện tượng đất chết, về các quan hệ thông tin, vật chất, năng lượng trong các hệ sinh thái v.v…

- Các hướng phát triển của bảo vệ thực vật trên thế giới trong những năm sắp tới

+ Hướng cơ bản của bảo vệ thực vật là IPM. Ta gọi là quản lý dịch hại tổng hợp hay là tổng hợp bảo vệ cây. Trong hướng này: tổng hợp sử dụng các biện pháp thay cho sử dụng từng biện pháp riêng lẻ. Quản lý dịch hại thay cho diệt trừ dịch hại. Bảo vệ cây thay cho phòng trừ sâu bệnh.

+ Đấu tranh sinh học trong cân bằng sinh thái. Nhiều nỗ lực của các nhà khoa học trên các hướng: sử dụng thiên địch, sử dụng các chế phẩm sinh học, dùng các biện pháp triệt sản, các biện pháp di truyền, các chất phóng xạ, nuôi, nhân, thả côn trùng có ích v.v… được tiếp tục xúc tiến. Tuy nhiên, ngày càng hiện rõ nét các biện pháp này hướng tới việc tạo ra những trạng thái cân bằng sinh thái cho các hệ thông nông nghiệp để đạt được những năng suất kinh tế cao. Đấu tranh sinh học được đặt ra trong hệ thống tổng hợp bảo vệ cây, vì vậy nó phối hợp chặt chẽ với các biện pháp khác.

+ Phương pháp hóa học được phát triển theo hướng điều tiết hoạt động của các loài sinh vật gây hại, đảm bảo những trạng thái cân bằng trong các hệ sinh thái nông nghiệp, hướng tới những năng suất kinh tế cao. Các nhà khoa học tìm tòi để tạo ra các loại thuốc có tác động chọn lọc, các loại thuốc chóng phân hủy trong môi trường, các loại thuốc ít có hại cho các loài động vật máu nóng, ít có hại cho cây trồng v.v… Bên cạnh đó kỹ thuật sử dụng thuốc không ngừng được cải tiến. Cách sử dụng thuốc theo 4 đúng: đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng nơi, đúng cách được phổ cập đến tận từng nông dân. Những tìm tòi về thuốc, về cách sử dụng thuốc đều hướng tới đưa phương pháp hóa học vào hệ thống hài hòa với các phương pháp khác trong tổng hợp bảo vệ cây.

+ Miễn dịch thực vật là một trong những hướng tập trung sự chú ý của nhiều nhà bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, hiện nay miễn dịch thực vật được đặt ra trong sự phối hợp chặt chẽ với các nhà di truyền chọn giống để tạo ra các giống cây tốt với các đặc điểm đồng bội cho năng suất cao, cho chất lượng nông sản tốt và chống chịu sâu bệnh, chống chịu các điều kiện không thuận lợi khác. Sự kết hợp này là việc làm rất khó vì thường vấp phải các mâu thuẫn: giống năng suất cao thường yếu chống chịu sâu bệnh, giống chống chịu thường có phẩm chất nông sản không cao, giống năng suất cao thường có phẩm chất nông sản không cao v.v… Hướng tới là tạo ra những trạng thái cân bằng trong hệ thống di truyền của giống và từng bước nâng trạng thái cân bằng trong di truyền này lên ở các nước cao hơn để đạt được các mục tiêu đề ra.

+ Các biện pháp kỹ thuật canh tác được sử dụng như những yếu tố tác động lên các hệ sinh thái nông nghiệp để điều tiết các mối quan hệ giữa các loài sinh vật trong hệ, hướng tới tạo ra năng suất kinh tế cao. Trong tổng hợp bảo vệ cây, các biện pháp kỹ thuật canh tác được sử dụng để điều tiết sinh trưởng và phát triển của cây, điều tiết sinh trưởng, phát dục, tích lũy của các loài gây hại, điều tiết tiểu khí hậu, làm tăng độ phì nhiêu của đất v.v… Tất cả những điều tiết này nhằm vào việc ngăn cản tác hại của sâu bệnh, phát huy tiềm năng của giống cây, của đất đai, của toàn bộ hệ sinh thái để thu được năng suất cây trồng cao.

- Xu hướng mở rộng giao lưu quốc tế thúc đẩy sự liên kết và trao đổi thông tin, chuyển giao kết quả và các tiến bộ khoa học công nghệ trong bảo vệ thực vật ngày càng được mở rộng.

b/ Vai trò của bảo vệ thực vật trong nông nghiệp nước ta

- Bảo vệ thực vật ở nước ta là con đường của chính quyền nhân dân. Trước cách mạng tháng 8, các hoạt động phòng trừ sâu bệnh có được thực hiện ở một số nơi với một số loại cây trồng, nhưng chỉ lẻ tẻ, rời rạc, thiếu hệ thống, thiếu thường xuyên.

Chỉ từ sau khi có chính quyền nhân dân, hệ thống tổ chức và công tác bảo vệ thực vật mới được hình thành, kết nối với nhau, triển khai một cách đồng bộ trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, tư vấn hỗ trợ cho nông dân, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ mới được hình thành và tỏa rộng ra trên địa bàn cả nước.

- Thời kỳ trước khi có đường lối đổi mới của Đảng (trước năm 1985). Hệ thống bảo vệ thực vật nước ta được nhà nước đầu tư trang bị kinh phí hoạt động với hệ thống tổ chức mạng lưới từ trung ương đến các vùng, các tỉnh. Hệ thống bảo vệ thực vật đã có những đóng góp tích cực trong việc điều tra phát hiện nắm tình hình sâu bệnh, ngăn ngừa và dập tắt nhiều đợt dịch sâu bệnh phát sinh hàng loạt trên diện rộng. Đáng kể có các đợt trừ sâu đục thân lúa (1958-1960), trừ bệnh đạo ôn (1957-1958), trừ sâu đục thân và bệnh rỉ sắt cà phê (1960-1962), trừ sâu năn (1967-1968), trừ bệnh vàng lụi (1960-1965), trừ sâu cắn gié (1962-1963), trừ sâu gai (1960-1961), trừ rầy nâu (1977-1979), trừ bệnh bạc lá, bệnh khô vằn (những năm 90) v.v…

- Từ những năm bắt đầu đường lối đổi mới cho đến nay, nông nghiệp nước ta có nhiều chuyển biến. Nông sản hàng hóa tăng lên, khối lượng nông sản xuất khẩu tăng. Các hoạt động bảo vệ thực vật đã có những đóng góp tích cực vào việc tăng năng suất cây trồng, tăng chất lượng nông sản, tăng hàng nông sản xuất khẩu.

Cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, hệ thống tổ chức bảo vệ thực vật có những chuyển đổi. Đặc biệt là ở các cơ sở sản xuất, từ các tổ đội bảo vệ thực vật ở các hợp tác xã nông nghiệp chuyển thành các đội dịch vụ kỹ thuật làm cho hoạt động có những lúng túng.

Vai trò của bảo vệ thực vật trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn càng nổi rõ và có vị trí quan trọng. Trong việc thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền nông nghiệp và nông thôn ở nước ta nhiều vấn đề về môi trường có liên quan đến việc sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật nảy sinh. Đáng chú ý là ô nhiễm đất, ô nhiễm các nguồn nước, dư lượng thuốc bảo vệ trong nông sản, ngộ độc thực phẩm ngày càng tăng. Các hoạt động bảo vệ thực vật có những chuyển đổi theo hướng tổng hợp bảo vệ cây để góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề môi trường.

Mặt khác, khối lượng nông sản xuất khẩu ngày càng tăng. Thị trường xuất khẩu nông sản ngày càng mở rộng, yêu cầu của thị trường thế giới đối với chất lượng nông sản ngày càng tăng. Đặc biệt, người ta rất chú ý đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản. Công tác bảo vệ thực vật cần đảm bảo cho năng suất và chất lượng nông sản xuất khẩu không ngừng tăng lên, đồng thời đảm bảo không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản.

Những năm gần đây, tổng hợp bảo vệ cây đã được áp dụng ở nhiều địa phương và đã mang lại kết quả khá tốt. Tuy nhiên, lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong nông nghiệp vẫn tăng lên hàng năm. Hiện nay (2001) đã nhập 35.500 tấn thuốc thành phẩm của 400 loại hoạt chất bảo vệ thực vật. Cùng với khối lượng thuốc nhập khẩu nhiều hàng năm việc kinh doanh buôn bán mặt hàng này trở nên rất khó quản lý và kiểm soát.

- Công tác bảo vệ thực vật, trong những năm vừa qua, có các ưu điểm và tồn tại sau đây:

+ Luôn bám sát và phục vụ sản xuất nông nghiệp phát triển.

+ Tổ chức mạng lưới rộng khắp đến tận cơ sở sản xuất, mạng lưới này đã kịp thời phát huy tác dụng khi sâu bệnh xuất hiện và tích lũy thành dịch.

+ Đội ngũ cán bộ bảo vệ thực vật có bước trưởng thành mới. Trong hoạt động, thể hiện nhiệt tình, nhạy bén với những tiến bộ mới và có sáng tạo trong công tác.

+ Tuy nhiên, cho đến nay chưa xây dựng được chiến lược công tác bảo vệ thực vật cho nên tính chủ động trong công tác còn thấp, nhiều trường hợp hoạt động còn mang tính chất bị động đối phó.

+ Đội ngũ cán bộ bảo vệ thực vật có nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong việc quản lý dịch hại đối với lúa là chính, đối với một số loại cây trồng khác, đặc biệt là các loại cây trồng xuất khẩu như điều, cà phê, cao su, chè v.v… còn chưa đủ sức về cán bộ, công nghệ, hiểu biết về quản lý dịch hại.

+ Phương tiện, trang bị cho hoạt động bảo vệ thực vật còn thiếu số lượng cũng như về trình độ hiện đại.

II. Định hướng phát triển, quan điểm, mục tiêu và các nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo vệ thực vật từ nay đến 2020

1/ Định hướng phát triển

Từ nay đến 2020 công tác bảo vệ thực vật phát triển theo các định hướng sâu đây

+ Phục vụ sự nghiệm công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, trước hết là phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong nông nghiệp và nông thôn.

+ Phục vụ nền nông nghiệp sinh thái, đa dạng phát triển theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.

+ Góp phần tích cực vào quá trình thâm canh, chuyên canh, sản xuất hàng hóa.

+ Phục vụ các thành phần kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn cùng phát triển.

+ Góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ trong các hoạt đông kinh tế-xã hội trong nông thôn.

2/ Quan điểm tổng quát

Bảo vệ sản xuất nông nghiệp có hiệu quả, góp phần tăng năng suất, chất lượng, sản lượng nông sản trên cơ sở phát triển bền vững các hệ sinh thái nông nghiệp, lâm nghiệp. Huy động tổng lực và toàn diện các lực lượng của tự nhiên, xã hội, kinh tế để hoàn thành tốt các nhiệm vụ bảo vệ thực vật, trong đó lực lượng chuyên ngành là nòng cốt.

3/ Các quan điểm cụ thể

+ Lấy tổng hợp bảo vệ cây làm phương pháp phổ biến trong mọi trường hợp tiến hành công tác bảo vệ thực vật đối với mọi loại cây trồng.

+ Coi công tác bảo vệ thực vật là một yếu tố thâm canh thúc đẩy sản xuất nông lâm nghiệp phát triển.

+ Bảo vệ thực vật đi đôi và là một bộ phận hợp thành của hoạt động tài nguyên – môi trường, đảm bảo phát triển nông nghiệp và phát triển thiên nhiên bền vững.

+ Xã hội hóa từng bước công tác bảo vệ thực vật trong sự giám sát và hỗ trợ tích cực của lực lượng chuyên môn để người dân có ý thức tự bảo vệ sản xuất ngay từ lúc bắt đầu các công việc trồng trọt.

4/ Mục tiêu và nhiệm vụ

+ Mục tiêu chung: Bảo vệ tốt các loại cây trồng và cây rừng. Giảm thiệt hại do sâu, bệnh, cỏ dại gây ra từ vào khoảng 20% tổng sản lượng nông nghiệp hiện nay xuống vào khoảng 18% vào năm 2010. Giảm giá trị sản xuất nông nghiệp bị mất mát do sâu bệnh hiện nay là 36000 tỷ đồng xuống còn 18000 tỷ đồng, giá trị sản xuất lâm nghiệp từ 1200 tỷ đồng hiện nay xuống còn 600 tỷ đồng vào năm 2010 (tính theo giá cố định 1994).

Nâng cao chất lượng nông sản xuất khẩu, mở thêm mặt hàng xuất khẩu đối với các loại nông sản hàng hóa hiện chưa xuất khẩu được do sâu bệnh. Giảm tỷ lệ hàng hóa nông sản không xuất khẩu được do sâu bệnh hiện nay vào khoảng 50% sản lượng xuống còn 20% đối với các loại hàng nông sản hiện đang tham gia xuất khẩu.

Ngăn chặn ô nhiễm môi trường do các hóa chất bảo vệ thực vật và các hoạt động khác của bảo vệ thực vật gây ra. Thu hẹp dần tiến đến loại bỏ các khu vực hiện đang bị ô nhiễm vì hoạt động bảo vệ thực vật. Góp phần tích cực vào việc mở rộng các diện tích tiến hành sản xuất nông nghiệp sạch. Góp phần tích cực ngăn ngừa ô nhiễm thực phẩm, chiếm không ít. Tình trạng nhân dân bị ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật trước năm 2020.

Xây dựng tiềm lực bảo vệ thực vật (cán bộ, trang bị, tổ chức, thông tin, …) đặc biệt coi trọng xây dựng mạng lưới bảo vệ thực vật đến tận cơ sở, đủ sức đảm bảo hoàn thành tốt các nhiệm vụ đặt ra cho công tác bảo vệ thực vật ở từng giai đoạn phát triển.

+ Nhiệm vụ trọng tâm của từng lĩnh vực

Quản lý nhà nước

Thể chế hóa các hoạt động bảo vệ thực vật đi đôi với xã hội hóa. Xây dựng mạng lưới bảo vệ thực vật đến tận cơ sở sản xuất. Ở cơ sở sản xuất hình thành tổ chức bảo vệ thực vật với nhiều hình thức khác nhau: tổ, đội, câu lạc bộ, nhóm kỹ thuật v.v…. Kết hợp nhiều hình thức: tổ chức dịch vụ, tư nhân, tổ hợp tác, liên kết v.v…

Quản lý chặt chẽ dịch hại, quản lý nghiêm ngặt các đối tượng kiểm dịch thực vật. Quản lý có hiệu quả, từng bước đưa vào nề nếp các hoạt động sản xuất, kinh doanh, lưu thông, phân phối, sử dụng, tiêu hủy các hóa chất bảo vệ thực vật.

Bố trí hợp lý lực lượng cán bộ để có đủ kiến thức và lực lượng bảo vệ tốt các loại cây trồng, cây rừng chủ yếu. Ngoài việc bảo vệ lúa cần dành lực lượng và đầu tư thỏa đáng để bảo vệ rau, cây ăn quả, các loại cây xuất khẩu, rừng trồng v.v…

Nghiên cứu khoa học công nghệ

Nghiên cứu để không ngừng nâng cao trình độ và hiệu quả của tổng hợp bảo vệ cây. Xây dựng lý luận bảo vệ thực vật của nền nông nghiệp sinh thái, bền vững trong điều kiện nhiệt đới gió mùa.

Mở rộng các công trình nghiên cứu để bảo vệ có hiệu quả các loại cây trồng và cây rừng chủ yếu của nước ta. Chú trọng bảo vệ cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm.

Đẩy mạnh việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học vào các hoạt động bảo vệ thực vật: chuyển gen kháng sâu bệnh vào giống cây trồng, công nghệ vi sinh sản xuất các chế phẩm sinh học trừ sâu bệnh, phương pháp di truyền trừ sâu hại v.v…

Vật tư bảo vệ thực vật

Tổ chức tốt việc sản xuất các loại vật tư bảo vệ thực vật. Sắp xếp lại trật tự việc nhập và gia công sản xuất các loại thuốc hóa học. Tổ chức và mở rộng việc sản xuất các chế phẩm sinh học, các loại thuốc có nguồn gốc thực vật.

Cung ứng đầy đủ, kịp thời, đúng lúc đến tận cơ sở sản xuất các loại vật tư bảo vệ thực vật có chất lượng.

Không ngừng cải tiến các loại công cụ, phương tiện phun rắc thuốc bảo vệ thực vật phù hợp với điều kiện sản xuất của các vùng và với đặc thù của từng loại cây. Tổ chức tốt việc sản xuất và cung cấp đầy đủ các công cụ phun rắc thuốc cho sản xuất.

Đào tạo bồi dưỡng cán bộ

Không ngừng hoàn thiện nâng cao chất lượng, tiến tới nhanh chóng chuẩn hóa chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ bảo vệ thực vật ở các cấp: kỹ thuật viên, sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học.

Tổ chức việc biên soạn giáo trình và sách giáo khoa về bảo vệ thực vật cho 5 cấp học.

Đến năm 2005 bồi dưỡng và đào tạo mới 6000 cán bộ trung cấp bảo vệ thực vạt cho 6000 xã trong cả nước.

Bồi dưỡng và đào tạo 15000 kỹ thuật viên có các thôn bản, xí nghiệp nông nghiệp.

Đào tạo 600 kỹ sư bảo vệ thực vật cho 600 huyện trong cả nước.

III. Hệ thống các giải pháp

1/ Các giải pháp pháp lý

Bảo vệ thực vật và kiểm dịch thực vật là những hoạt động đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ của nhà nước vì có liên quan đến an ninh sản xuất, an toàn sức khỏe và tính mạng của người dân, vì vậy cần được thể chế hóa.

Chúng ta đã có pháp lệnh bảo vệ thực vật và kiểm dịch thực vật, nhưng trong những năm sắp tới cùng với quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới thương mại được quốc tế hóa, cho nên cần có Luật bảo vệ thực vật và kiểm dịch thực vật.

Sau khi có Luật cần có những nghị định của Thủ tướng chính phủ và các hướng dẫn thi hành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng như của các cơ quan quản lý nhà nước khác.

2/ Cơ chế chính sách

Đầu tư cho công tác bảo vệ thực vật là đầu tư cho sản xuất. Vì vậy, cần có đầu tư thỏa đáng cho các hoạt động này. Cần xây dựng và thống nhất đầu tư cho các hoạt động bảo vệ thực vật từ kinh phí sự nghiệp của nhà nước, của các địa phương, của các doanh nghiệp và của người nông dân.

Xây dựng chính sách khuyến khích các hoạt động bảo vệ thực vật, khuyến khích và khen thưởng các cán bộ bảo vệ thực vật có thành tích.

Xây dựng cơ chế và chế tài thưởng, phạt các hoạt động vi phạm các quy định làm ô nhiễm môi trường, gây độc hại cho người tiêu dùng, vi phạm chế độ quản lý trong các hoạt động bảo vệ thực vật và kiểm dịch thực vật.

3/ Xây dựng mạng lưới và tổ chức bảo vệ thực vật

Mạng lưới bảo vệ thực vật là hệ thống các đơn vị được hình thành từ các cơ sở sản xuất, được khâu nối và hoạt động dưới sự chỉ đạo của các đơn vị quản lý kỹ thuật của bộ máy nhà nước.

Hệ thống này hoạt động trong sự phối hợp chặt chẽ và hài hòa của người sản xuất cá thể, các tổ chức hợp tác, các tổ chức quốc doanh, các cơ quan nhà nước.

Hệ thống tổ chức bảo vệ thực vật được hình thành ở các cấp thôn, xã, huyện, tỉnh cho đến toàn quốc, chịu sự quản lý về tổ chức cán bộ của chính quyền các cấp và chịu sự chỉ đạo về nghiệm vụ của hệ thống chuyên ngành.

Hệ thống tổ chức bảo vệ thực vật được chuyên hóa theo các lĩnh vực: bảo vệ thực vật, kiểm dịch thực vật, vật tư bảo vệ thực vật, nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ.

4/ Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động bảo vệ thực vật

Sớm hình thành mạng thông tin bảo vệ thực vật. Do tính chất diễn biến nhanh và có nhiều biến động cho nên mang thông tin thông suốt và nhanh chóng nối từ trung ương xuống các tỉnh, huyện có ý nghĩa rất lớn trong việc ngăn ngừa và dập tắt các trận dịch sâu bệnh.

Hình thành một số phòng thí nghiệm có các trang bị, phương tiện hiện đại để tiến hành các nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo vệ thực vật và kiểm dịch thực vật.

Hình thành một số tổ chức nghiên cứu bảo vệ thực vật chuyên trách cho một số cây trồng có giá trị xuất khẩu lớn, mà cho đến nay chưa có như: điều, hồ tiêu, dừa, dâu tằm, thuốc lá, cây ăn quả…

Xây dựng một xưởng, nhà máy sản xuất các chế phẩm sinh học bảo vệ thực vật như: BT, Beauveria, Metarhyzium, ong mắt đỏ v.v…

5/ Tăng cường đội ngũ cán bộ

Mở rộng mạng lưới đào tạo kỹ thuật viên bảo vệ thực vật cho các vị trí tổ trưởng bảo vệ thực vật thôn, tổ trưởng câu lạc bộ bảo vệ thực vật cụm gia đình

Bố trí đủ cho mỗi thôn bản một cán bộ trung cấp bảo vệ thực vật.

Hình thành mạng lưới chuyên trách cán bộ bảo vệ thực vật xã. Từng bước nâng trình độ đội ngũ cán bộ bảo vệ thực vật có trình độ đại học.

Trạm bảo vệ thực vật huyện có cán bộ đại học và các cán bộ trung cấp bảo vệ thực vật có trình độ và thạo tay nghề.

Các chi cục bảo vệ thực vật tỉnh được bố trí đủ biên chế với cán bộ có trình độ kinh nghiệm.

Các trạm bảo vệ thực vật và kiểm dịch thực vật vùng được bố trí đầy đủ biên chế và trang bị đầy đủ để đảm bảo chức năng làm trung tâm kỹ thuật cho vùng và đầu mối khâu nối hoạt động của các chi cục bảo vệ thực vật trong vùng.

6/ Xây dựng quy hoạch và chương trình hành động

Để thực hiện các mục tiêu của chiến lược, trong từng giai đoạn cần xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển hoạt động bảo vệ thực vật. Quy hoạch xác định các mục tiêu và nội dung cần đạt được ở mỗi giai đoạn phù hợp vối tình hình và điều kiện cụ thể. Quy hoạch cùng dự kiến các phương án và các kịch bản để thực hiện các mục tiêu trên cơ sở nắm bắt và phát huy các thuận lợi, các thời cơ khi chúng xuất hiện quy hoạch cũng dự kiến các phương án cần thiết để đưa ra thực thi khi gặp những khó khăn, trở ngại.

Các chương trình hành động được xây dựng để thực hiện các mục tiêu được xác định trong quy hoạch tổng thể. Bên cạnh các chương trình hành động, có các chương trình mục tiêu để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể hoặc tạo ra một nhóm sản phẩm.

Từ các chương trình mục tiêu xây dựng các dự án khả thi trên cơ sở đó lựa chọn các dự án ưu tiên đem ra thực hiện ở mỗi thời kỳ.

 

GS.TS Đường Hồng Dật

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp