Công tác BVTV phục vụ phát triển nền nông nghiệp bền vững Việt Nam

T6, 04/17/2015 - 15:28

I. Một số thành tựu của bảo vệ thực vật trong những năm vừa qua

Vào những năm 50 của thế kỷ XX, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay và phát triển nông nghiệp, xây dựng kinh tế sau những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Để bảo vệ sản xuất nông nghiệp, một số cán bộ được giao trách nhiệm làm công tác bảo vệ thực vật. Hoạt động này được hình thành từ đó và liên tục phát triển cho đến ngày nay.

Hơn 50 năm hoạt động và trưởng thành, các hoạt động bảo vệ đã có những đóng góp đáng kể trong những thành công của nông nghiệp nước ta. Bảo vệ thực vật đã ngăn chặn được tác hại của nhiều loại sâu bệnh hại cây trông, bảo vệ năng suất và sản lượng các loại cây trồng chủ yếu. Nhiều trận dịch sâu bệnh hại đã được phát hiện, ngăn chặn, góp phần bỏa vệ mùa màng. Công tác kiểm tịch thực vật đã có những đóng góp tích cực trong việc phát hiện và loại trừ sự xâm nhập của nhiều loại sâu bệnh ngoại lai xâm nhập vào nước ta, góp phần nâng cao chất lượng nông sản hàng hóa trên thị trường trong nước và quốc tế.

Công tác bảo vệ thực vật có nhiều đóng góp trong việc tạo ra các giống cây trồng chống chịu sâu bệnh và đã cung cấp cho sản xuất một số giống có đặc tính chống chịu góp phần ổn định năng suất. Bảo vệ thực vật đã tích cực góp phần vào việc gìn giữ các giống cây trồng mới đưa vào sản xuất với đặc tính cho năng suất cao.

Những năm gần đây, bảo vệ thực vật đã có những đóng góp trong việc bảo vệ và phát huy đa dạng sinh học. Nhiều loài ký sinh, thiên địch, đã được chú ý bảo vệ trong các hệ sinh thái nông nghiệp.

Hoạt động bảo vệ thực vật đã đi đầu trong việc áp dụng và mở rộng sản xuất nông nghiệp sạch, thực hiện sản xuất nông nghiệp an toàn. Bảo vệ thực vật có nhiều đóng góp trong các hoạt động thực hành nông nghiệp tốt (GAP) và khởi nguồn cho một số phong trào sản xuất nông nghiệp thân thiện với môi trường như “ba giảm ba tăng”, “phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM)”.

Những nguyên nhân chủ yếu tạo nên những thành tựu trên đây trước hết là sự quan tâm tạo những điều kiện thuận lợi về nhân lực, vật tư, phương tiện, chính sách của các cấp ủy Đảng và Chính quyền cho các hoạt động bảo vệ thực vật.

Đội ngũ cán bộ, công nhân, các nhà khoa học, các nhà quản lý công tác bảo vệ thực vật nhiệt tình, hăng say công việc, không quản gian khó, với tinh thần trách nhiệm đã phát huy sáng tạo, tìm mọi cách để bảo vệ cho được mùa màng, loại trừ thiệt hại do sâu bệnh gây ra.

Mạng lưới chuyên trách công tác bảo vệ thực vật được hình thành, xây dựng và củng cố qua nhiều năm bổ sung và hoàn thiện; đến nay đã có mặt từ cơ sở sản xuất đến các cấp lên đến trung ương. Mạng lưới này đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm qua những năm hoạt động thực tiễn trong công tác bảo vệ thực vật nên đã có những đóng góp rất tích cực trong việc phòng trừ sâu bệnh bảo vệ mùa màng.

Các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đào tạo cán bộ có nhiều đóng góp trong các thành công của hoạt động bảo vệ thực vật. Các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ được triển khai trên nhiều hướng: tìm hiểu các đối tượng gây hại; dự tính dự báo phát sinh, gây hại của sâu bệnh; tìm tòi và sáng tạo các phương pháp phòng trừ v.v… Trên một số lĩnh vực nghiên cứu, chúng ta đã đi vào các hướng hiện đại như phân lập các gen chống chịu, xác định các gen lây nhiễm, bệnh lý học phân tử, các mối quan hệ thông tin trong thế giới côn trùng v.v…

Hàng năm, chúng ta đào tạo hàng trăm kỹ sư bảo vệ thực vật, tập huấn, bồi dưỡng cho hàng nghìn kỹ thuật viên, huấn luyện cho hàng vạn nông dân về bảo vệ thực vật. Đội ngũ cán bộ, công nhân này làm cho chất lượng công tác bảo vệ thực vật từng bước được nâng lên, hiệu quả công tác ngày càng cao hơn.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động bảo vệ thực vật trong những năm vừa qua còn bộc lộ một số khuyết điểm và nhược điểm.

Nhiều trận dịch sâu bệnh chưa được phát hiện kịp thời, nhiều biện pháp phòng trừ được áp dụng còn mang lại hiệu quả chưa cao, cho nên hàng năm sâu bệnh vẫn còn gây ra những thiệt hại đáng kể cho mùa màng.

Tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật chưa đúng kỹ thuật còn xảy ra ở nhiều nơi dẫn đến ô nhiễm môi trường. Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên một số loại rau, quả ở một số địa phương quá cao, gây ra ngộ độc cho người sử dụng. Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên một số nông sản xuất khẩu cao làm giảm giá trị và uy tín của nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới. Phun thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều lần tại một số vùng trồng rau, cây ăn quả, cây công nghiệp làm cho nhiều loài sinh vật trong hệ sinh thái bị suy giảm về số lượng, làm nghèo đa dạng sinh học.

Cho đến nay, nhiều vấn đề cơ bản của công tác bảo vệ thực vật chưa được giải quyết. Quy luật phát sinh, biến động, gây hại của nhiều loài sâu bệnh và của các quần xã gây hại trên địa bàn cả nước cũng như ở một số vùng kinh tế - sinh thái chưa được phát hiện, cho nên tình trạng bị động đối phó vẫn còn diễn ra. Mối quan hệ giữa các loài ký sinh gây hại và ác loài ký chủ còn nhiều điều chưa biết. Đặc điểm, cơ chế miễn dịch của các loài cây trồng nước ta chưa được nghiên cứu.

Công tác bảo vệ thực vật còn mang tính bị động, ứng phó. Phần lớn lực lượng bị hút vào việc xử lý, đối phó với diễn biến và gây hại trước mắt của sâu bệnh. Hoạt động bảo vệ thực vật chưa dành được thế chủ động trong việc bảo vệ mùa màng hiện nay, mà còn chưa làm rõ được định hướng phát triển trong những năm sắp tới, nhất là để phục vụ một nền nông nghiệp phát triển bền vững và chuẩn bị cho nước ta đi vào nền kinh tế tri thức, theo kịp bước tiến của thời đại.

II. Xây dựng hoạt động bảo vệ thực vật phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7, khóa X đã ra nghị quyết về phát triển nông nghiệp – nông thôn – nông dân (tháng 8/2008) nêu lên mục tiêu tổng quát về phát triển nông nghiệp trong thời gian tới là: “Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại bề vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia”.

Theo Ban Thư ký công ước đa dạng sinh học (2008): “Nông nghiệp bền vững hướng tới việc sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của tự nhiên nhằm đạt được sản lượng cao bằng các biện pháp có hiệu quả về kinh tế, thân thiện với môi trường, phụ vụ cho các nhu cầu của xã hội đi đôi với bảo tồn các nguồn tài nguyên cho giai đoạn tương lai và cho các thế hệ mai sau”.

Nền nông nghiệp bền vững có các mục tiêu sau đây: đạt năng suất, chất lượng nông sản cao, sản xuất hàng hóa; tạo ra sản phẩm nông nghiệp ngon lành, sạch; đảm bảo thu nhập và đời sống của nông dân tăng lên không ngừng; tài nguyên thiên nhiên được sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm, khoa học với hiệu quả cao và không ngừng giàu có thêm để đảm bảo đáp ứng đầy đủ cho các nhu cầu hiện tại và không làm ảnh hưởng đến sự phát triển trong tương lai; môi trường nông thôn xanh, sạch trong lành.

Để có thể phục vụ tốt cho việc xây dựng nền nông nghiệp bền vững, cần xây dựng và thực hành phương pháp bảo vệ thực vật bền vững. Thực tế hoạt động trong những năm vừa qua cho thấy, các phương pháp bảo vệ thực vật thường được áp dụng để ngăn ngừa tác hại của sâu bệnh trực tiếp gây ra cho cây trồng mà chưa chú ý nhiều đến ý nghĩa tạo sự bền vững cho bản thân công tác này và cho sự phát triển bền vững của toàn bộ nền nông nghiệp. Xây dựng và thực hành phương pháp bảo vệ thực vật bền vững cần chú ý làm tốt những công việc chủ yếu sau đây:

1.Có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về các mục tiêu mà các hoạt động bảo vệ thực vật cần đạt được

Trước hết các phương pháp và hoạt động bảo vệ thực vật hướng vào việc ngăn ngừa các tác hại do sâu bệnh gây ra, đảm bảo đạt năng suất cây trồng cao. Mục tiêu này cho đến nay đã được làm tốt và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.

Các hoạt động và phương pháp bảo vệ thực vật còn cần hướng vào nâng cao chất lượng nông sản, nâng cao giá trị hàng hóa, nâng cao các chỉ tiêu chất lượng công nghiệp, nâng cao các giá trị dinh dưỡng. Mục tiêu này cho đến nay chưa được công tác bảo vệ thực vật ở nước ta chú ý đến đầy đủ và đúng mức. Các phương pháp bảo vệ thực vật cần hướng tới việc nâng cao hiệu quả dịch vụ hệ sinh thái. Dịch vụ hệ sinh thái được Công ước đa dạng sinh học quốc tế (CBD) định nghĩa là: “Những lợi ích mà con người thu được từ các hệ sinh thái bao gồm dịch vụ cung cấp thức ăn và nước; các dịch vụ điều tiết như kiểm soát lũ và dịch bệnh; các chức năng văn hóa như các lợi ích về tinh thần và giải trí; và các dịch vụ hỗ trợi như chu chuyển chất dinh dưỡng, duy trì các điều kiện cho sự sống trên Trái đất”. Các dịch vụ và lợi ích của hệ sinh thái bao gồm: dịch vụ cung cấp (lương thực thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp, giống cây trồng, vật nuôi…); dịch vụ điều hòa (kiểm soát lũ lụt, sâu bệnh, thụ phấn, chống xói mòn, làm sạch nước); dịch vụ văn hóa (các giá trị về tinh thần và tôn giáo, gây nguồn cảm hứng, các giá trị giải trí và thẩm mỹ…); dịch vụ hỗ trợ (sản xuất sơ cấp, chu chuyển vật chất, cung cấp nơi cư trú, sản xuất oxy trong khí quyển v.v…). Mục tiêu này, cho đến nay công tác bảo vệ thực vật hầu như chưa chú ý đến và chưa có những nỗ lực tìm kiếm các phương pháp để đạt được các hiệu quả cần thiết.

Các hoạt động bảo vệ thực vật bên cạnh những lợi ích trực tiếp cần đạt được còn cần hướng tới những mục tiêu mang lại những lợi ích lâu dài về kinh tế - xã hội. Đó là sự thu hút việc tham gia của nông dân và cán bộ cơ sở, của các cấp chính quyền địa phương, của các tổ chức phi chính phủ nhằm nâng cao nhận thức về sinh thái, về kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng sử dụng vật tư công cụ bảo vệ thực vật, tăng cường lòng tin của nông dân vào khả năng hạn chế được tác hại của sâu bệnh và nâng cao hiệu quả dịch vụ hệ sinh thái. Về mục tiêu này, các hoạt động bỏa vệ thực vật ở nước ta đã thực hiện được một phần, nhưng chưa nhiều lắm. Riêng ở những địa phương triển khai tốt chương trình IPM, mục tiêu này đã thu được kết quả tương đối khá.

Có được nhận thức đúng đắn và đầy đủ về các mục tiêu của hoạt động bảo vệ thực vật làm cho công tác này trở nên bền vững hơn và đạt được những hiệu quả toàn diện hơn.

2.Mở rộng và nâng cao hơn nữa chương trình tổng hợp bảo vệ cây (chương trình quản lý tổng hợp dịch hại) IPM

Chương trình này đã được thực hiện ở một số tỉnh trên địa bàn nước ta trong những năm vừa qua và đã thu được kết quả tốt. Theo tổng kết của Tổ chức Lương Nông Hiệp quốc (FAO), chương trình IPM đã thu được nhiều thành công ở một số nước, bao gồm 3 hợp phần:

-Ứng dụng có kết quả những thành tựu của nghiên cứu khoa học một cách rộng rãi, đặc biệt là sự tham gia và tinh thần trách nhiệm của người nông dân trong việc dự báo phát sinh và gây hại của sâu bệnh, sự tham gia của họ vào việc xây dựng và thực hiện các biện pháp phòng trừ sâu bệnh.

-Một chương trình đào tạo và tập huấn với sự tham gia rộng rãi của nông dân và cán bộ cơ sở.

-Một sự thay đổi về chính sách, thí dụ như không còn trợ cấp cho nông dân khi bị thiệt hại do sâu bệnh gây ra, khuyến khích và hỗ trợ cho các lớp tập huấn về IPM…

Để hoàn thiện hơn nữa chương trình IPM ở nước ta, cần thực hiện tốt việc tổng kết những kinh nghiệm và kết quả hoạt động bảo vệ thực vật trên các địa phương trong cả nước, tổng kết và hệ thống hóa các kiến thức bản địa về bảo vệ thực vật. Chương trình quốc tế về đa dạng sinh học nông nghiệp công nhận những đóng góp của người nông dân và các cộng đồng bản địa và địa phương vào việc bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học nông nghiệp, cũng như tầm quan trọng của đa dạng sinh học đối với nguồn sinh kế của họ. Từ kết luận này diễn đàn liên chính phủ của FAO đã xây dựng Công ước quốc tế về bảo vệ thực vật và một số chính sách quốc tế khác.

Công tác dự báo sinh và gây hại được nâng lên về độ chính xác và tính phổ biến. Đi đôi với việc này cần có chủ trương gieo trồng hệ thống cây chỉ thị để giúp nông dân thực hiện việc dự báo.

Cần phân tích một cách sâu sắc và đầy đủ tác dụng phòng trừ sâu bệnh của các biện pháp kỹ thuật canh tác như: luân canh, xen canh, gối vụ. Thực hiện các hệ thống đa canh, đa vụ. Tiến hành rải vụ, cắt cầu di chuyển của sâu bệnh. Thực hiện trồng cây phủ đất v.v…

Mở rộng hơn các biện pháp sinh học phòng trừ sâu bệnh: dùng giống chống chịu sâu bệnh, phát huy vai trò tích cực của tập đoàn vi sinh vật trong đất, phát huy vai trò ức chế sâu bệnh hại của quần thể sinh vật có ích trong các hệ sinh thái nông nghiệp, mở rộng việc sử dụng các chế phẩm vi sinh, chế phẩm sinh học, côn trùng ký sinh trong phòng trừ sâu bệnh hại v.v…

Bằng nhiều biện pháp nâng cao hiệu quả và hạn chế các tác động, tiêu cực của biện pháp hóa học. Kiên quyết sử dụng thuốc bảo vệ thuật vật đúng kỹ thuật “bốn đúng”.

3.Tổng kết tốt công tác bảo vệ thực vật những năm vừa qua, xây dựng quy hoạch phát triển bảo vệ thực vật phục vụ nền nông nghiệp sinh thái, bền vững, hiện đại

Công tác bảo vệ thực vật nước ta đã có hươn 50 năm xây dựng và trưởng thành. Cùng với thời gian, với những cố gắng bám sát đồng ruộng, với nhiều sáng tạo giải quyết các vấn đề nảy sinh từ thực tế sản xuất, chúng ta đã tích lũy được khá nhiều kiến thức và kinh nghiệm. Đó là những kiến thức và kinh nghiệm rất quý, được hình thành từ thực tiễn nông nghiệp nước ta, một nền nông nghiệp có những nét rất riêng và đã có những thành tích to lớn phục vụ đắc lực cho 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thành công, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế đất nước ta trong phát triển hòa bình. Bảo vệ thực vật Việt Nam có những nét rất riêng, tạo nên dáng vẻ và phong cách không thể lẫn với hoạt động này ở bất kỳ nơi nào khác.

Bảo vệ thực vật được hình thành và phát triển trên cơ sở nền nông thôn hợp tác hóa theo mô hình kinh tế tập trung xã hội chủ nghĩa và từ sâu đổi mới là mô hình nông nghiệp của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc điểm này đã làm cho công tác bảo vệ thực vật ngay từ đầu đã được hướng về cơ sở, bám sát sản xuất và phục vụ đặc lực cho phát triển sản xuất nông nghiệp.

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Các yếu tố khí hậu thời tiết có những khoảng cách biến động lớn, quá trình thay đổi diễn ra nhanh, nhiều diễn biến khí hậu mang tính bất ngờ ngoài quy luật. Đặc điểm này làm cho diễn biến và gây hại của sâu bệnh thường xuyên thay đổi, khó dự báo, khó phòng trừ. Các biện pháp bảo vệ thực vật cũng chịu tác động lớn của đặc điểm này.

Địa hình đất đai Việt Nam rất đa dạng, có nhiều xen, cắt, nhiều loại hình, nhiều mức độ. Đặc điểm này ảnh hưởng lớn đến cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ, ảnh hưởng đến các quy trình kỹ thuật canh tác được áp dụng. Thông qua những dạng sản xuất có nhiều thay đổi trong không gian và thời gian mà diễn biến của sâu bệnh trở nên phức tạp, công tác phòng trừ chúng gặp nhiều khó khăn.

Đa dạng sinh học nông nghiệp Việt Nam rất phong phú về loài (có đến trên 1000 loài cây trồng) về nguồn gen (riêng cây lúa có hàng trăm giống khác nhau) về hệ sinh thái nông nghiệp (nhiều phương thức xen canh nhiều trà, nhiều vụ). Quần thể các loại sinh vật có ích trong các hệ sinh thái nông nghiệp rất phong phú, trong nhiều trường hợp đã trở thành yếu tố hạn chế đối với phát sinh và gây hại của sâu bệnh. Đa dạng sinh học phong phú là tài nguyên quý báu đối với nông nghiệp nước ta, nhưng cho đến nay chúng ta khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này chưa được bao nhiêu, nhất là trong các hoạt động bảo vệ thực vật.

Nông nghiệp Việt Nam là một nền nông nghiệp nhìn chung là đa canh, nhưng có những vùng chuyên canh khá lớn như vùng lúa ở 2 đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, vùng cà phê ở Tây Nguyên, vùng cao su, điều ở miền Đông Nam Bộ, vùng chè ở Trung du… Các loại cây hàng năm được gieo trồng nhiều vụ trong một năm. Những năm gần đây, nông nghiệp Việt Nam phát triển với tốc độ nhanh trên các mặt: diện tích, năng suất, sản lượng, tỷ trọng và giá trị hàng hóa và đang là nguồn hàng xuất khẩu chiếm vị trí cao trong khối lượng hàng xuất khẩu nước ta. Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, diễn biến và gây hại của sâu bệnh có nhiều thay đổi.

Người nông dân Việt Nam với tập quán làm nông nghiệp qua nhiều thế hệ, đã hình thành nên những nét truyền thống riêng. Đặc điểm của nông dân nước ta là rất yêu ruộng, vườn, kiên trì bám đất bám làng, nhẫn nại, chịu khó, ham học hỏi, khát khao kiến thức, tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học và công nghệ. Truyền thống tốt đẹp của nông dân cùng với kiến thức bản địa được đúc kết từ thực tiễn sản xuất đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến tổ chức công tác và hoạt động bảo vệ thực vật nước ta.

Từ sau ngày nước ta gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) quá trình hòa nhập kinh tế thế giới diễn ra ngày càng sâu rộng. Quá trình giao lưu trao đổi hàng hóa, khoa học công nghệ, thông tin, giáo dục ngày càng nhiều, càng khẩn trương. Nước ta tham gia vào nhiều tổ chức, hiệp định, công ước quốc tế. Tình hình an toàn sinh học của đất nước có nhiều thay đổi so với trước đây. Nguy cơ xâm hại của các loài sinh vật ngoại lai gia tăng quần xã các loài sinh vật gây hại ở nước ta chịu nhiều tác động và có những biến đổi về số lượng, tần suất xuất hiện, mức độ gây hại.

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang gây ra nhiều tác động tiêu cực lên thiên nhiên, lên đa dạng sinh học, lên kinh tế - xã hội nhiều nước. Mối đe dọa của biến đổi khí hậu toàn cầu đang ngày càng gia tăng. Nước ta là một trong những nước được dự báo là chịu nhiều tác hại của hiện tượng này. Biến đổi khí hậu toàn cầu có những ảnh hưởng và tác động nhiều mặt đối với công tác bảo vệ thực vật.

Thực hành bảo vệ thực vật tốt là một bộ phận của thực hành nông nghiệp tốt. Công tác này cần được xây dựng chu đáo cả về lý thuyết cũng như thực hành. Muốn vậy, cần tiến hành tổng kết đầy đủ và chu đáo hoạt động bảo vệ thực vật nước ta trong những năm vừa qua. Việc tổng kết cần được tiến hành đồng bộ và toàn diện trên các mặt: phong trào bảo vệ thực vật, ứng dụng các biến bộ khoa học – công nghệ, tổ chức lực lượng, nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ v.v…

Trên cơ sở tổng kết tốt hoạt động bảo vệ thực vật thời gian qua, tiến hành xây dựng Quy hoạch công tác bảo vệ thực vật thời gian tới, góp phần xây dựng nên nông nghiệp Việt Nam hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa, như mục tiêu của hội nghị Trung ương 7 đã đề ra.

Quy hoạch phát triển bảo vệ thực vật thời gian tới (có thể đến 2020, tầm nhìn đến 2030) cần xuất phát từ Quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp Việt Nam, phù hợp với Quy hoạch tổng thể sử dụng đất, Quy hoạch tài nguyên nước, phù hợp với các luật đã được Chủ tịch nước ban hành như Luật đất đai, Luật đa dạng sinh học, Luật bảo vệ môi trường và một số Luật khác có liên quan.

Quy hoạch phát triển bảo vệ thực vật Việt Nam cần được nhanh chóng xây dựng để thấy được các mục tiêu cần đạt đến, làm cơ sở để xác định các mục tiêu cụ thể cho hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ. Quy hoạch cũng là nền tảng để tổ chức lực lượng, sản xuất cung ứng vật tư kỹ thuật, máy móc.

 

Tóm tắt

Bảo vệ thực vật Việt Nam đã có những đóng góp tích cực cho phát triển sản xuất nông nghiệp trong những năm vừa qua. Tuy nhiên, trước tình hình phát triển hiện nay của nông nghiệp trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế, nhất là sau khi có nghị quyết hội nghị Trung ương 7, khóa X về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, nhiều vấn đề đang được đặt ra đòi hỏi bảo vệ thực vật Việt Nam có bước phát triển mới.

Để góp phần đặc lực xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa cần xây dựng và thực hiện việc thực hành bảo vệ thực vật bền vững. Muốn vậy, cần làm tốt: xây dựng nhận thức đúng đắn và đầy đủ về các mục tiêu mà các hoạt động bảo vệ thực vật cần đạt tới; mở rộng và nâng cao hơn nữa chương trình Tổng hợp bảo vệ cây (IPM); tổng kết tốt công tác bảo vệ thực vật những năm vừa qua và xây dựng quy hoạch phát triển bảo vệ thực vật thời gian tới.

GS.TS Đường Hồng Dật

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Hội bảo vệ thực vật của bạn.
Enter the password that accompanies your username.
Đang nạp